Thứ Ba, 29 tháng 11, 2011

Anh là ai?

13/11/2011 

Nhạc sĩ Việt Khang sáng tác và trình bày

Xin hỏi anh là ai
Sao bắt tôi, tôi làm điều gì sai?
Xin hỏi anh là ai
Sao đánh tôi, chẳng một chút nương tay?
Xin hỏi anh là ai
Không cho tôi xuống đường để tỏ bày
Tình yêu quê hương này
Dân tộc này đã quá nhiều đắng cay?
Xin hỏi anh ở đâu
Ngăn bước tôi chống giặc tàu ngoại xâm?
Xin hỏi anh ở đâu
Sao mắng tôi bằng giọng nói dân tôi?
Dân tộc anh ở đâu
Sao đan tâm làm tay sai cho Tàu
Để ngàn năm ghi dấu
Bàn tay nào nhuộm đầy máu đồng bào?
Tôi không thể ngồi yên
Khi nước Việt Nam đang ngã nghiêng
Dân tộc tôi sắp phải đắm chìm
Một ngàn năm hay triền miên tăm tối
Tôi không thể ngồi yên
Để đời sau con cháu tôi làm người
Cội nguồn ở đâu?
Khi thế giới này không còn Việt Nam

Thứ Tư, 3 tháng 8, 2011

Góc nhìn: Vụ “Cù Huy Hà Vũ” – Sự ấm ớ đáng xấu hổ về truyền thông

Ai đã vô tình phong “thánh” cho TS Cù Huy Hà Vũ?
bl-n.jpg
Những điều cay đắng trên dẫn đến điều cay đắng tiếp theo là chúng ta bị quốc tế phản đối, bị đặt vấn đề về nhân quyền, bị nghi ngờ về những cam kết. Giáo sư Ngô Bảo Châu rất có lý khi cho rằng: “Có cố tình làm mất thể diện quốc gia, chắc cũng khó mà làm hơn mấy ông bà này”.
Vụ “Cù Huy Hà Vũ”: Sự ấm ớ đáng xấu hổ về truyền thông
Thật ra, việc ông Vũ bị phạt tù bao nhiêu năm không quan trọng. Cái quan trọng là phải hiểu vì sao ông ấy bị phạt tù. Theo thông tin chính thống thì ông Vũ bị phạt 7 năm tù về tội chống lại chế độ XHCN. Nhưng ông ấy chống như thế nào và tại sao ông ấy chống thì không được nói rõ ràng.
Cần phải hiểu rằng vụ án xử TS Cù Huy Hà Vũ là một cơ hội để nhận thức những vấn đề quan trọng có tính nguyên tắc, như: Thế nào là lòng yêu nước? Thế nào là tuyên truyền chống chính quyền nhân dân? Làm thế nào để tăng uy tín quốc gia?… Đáng ra những vấn đề này phải được tranh tụng tại tòa, nhưng thật là buồn là ở phiên tòa vừa rồi không có phần tranh tụng vì các luật sư cho rằng Hội đồng xét xử đã vi phạm điều 214 Bộ Luật hình sự nên họ bỏ về.
Ấm ớ đến lố bịch
Vụ án TS Cù Huy Hà Vũ bộc lộ khía cạnh lố bịch về truyền thông trong thế giới hiện đại. Tòa của ta, xử người của ta, giữa Thủ đô của nước ta, ấy thế mà tôi lại phải theo dõi thông tin qua báo chí nước ngoài. Theo như thông báo, phiên tòa diễn ra vào 8 giờ sáng ngày 4/4/2011, nhưng vào lúc 10 giờ sáng, không thấy tờ báo mạng nào của ta tường thuật. Trong khi đó, vào lúc 9 giờ 26 phút, BBC đã có bài và có ảnh về quanh cảnh phiên tòa. Sau đó BBC liên tục cập nhật. Còn tất cả các báo chí của ta, đến chiều mới đồng loạt đưa tin ông Cù Huy Hà Vũ bị kết án 7 năm tù.
Điều đáng nói là ở chỗ cho đến lúc đó cũng không có tờ báo chính thống nào tường thuật trung thực, chi tiết về những gì đã diễn ra ở phiên tòa xử ông Vũ. Lại vẫn phải nhờ cậy đến báo chí nước ngoài mới biết được đôi điều.
Nếu căn cứ vào hai luồng thông tin thì thấy chúng mâu thuẫn nhau và không biết hiểu thế nào cho đúng. Có điều thông tin không chính thống cho thấy bức tranh toàn cảnh trung thực hơn, dễ hiểu hơn.
Theo Luật sư Trần Đình Triển và một số luật sư khác nữa thì phiên tòa xử ông Cù Huy Hà Vũ ngày 4/4/2011 vi phạm Luật tố tụng Hình sự ngay từ ban đầu và người vi phạm là Hội đồng xét xử. Ông Triển nói rất rõ ràng là Điều 214 Bộ luật Hình sự bị vi phạm nghiêm trọng. Chính Hội đồng xét xử mà lại vi phạm Luật thì còn gì để nói nữa?!
Coi chừng phản tác dụng!
Thật ra, việc ông Vũ bị phạt tù bao nhiêu năm không quan trọng. Cái quan trọng là phải hiểu vì sao ông ấy bị phạt tù. Theo thông tin chính thống thì ông Vũ bị phạt 7 năm tù về tội chống lại chế độ XHCN. Nhưng ông ấy chống như thế nào và tại sao ông ấy chống thì không được nói rõ ràng.
Cần phải hiểu rằng vụ án xử TS Cù Huy Hà Vũ là một cơ hội để nhận thức những vấn đề quan trọng có tính nguyên tắc, như: Thế nào là lòng yêu nước? Thế nào là tuyên truyền chống chính quyền nhân dân? Làm thế nào để tăng uy tín quốc gia?… Đáng ra những vấn đề này phải được tranh tụng tại tòa, nhưng thật là buồn là ở phiên tòa vừa rồi không có phần tranh tụng vì các luật sư cho rằng Hội đồng xét xử đã vi phạm điều 214 Bộ Luật hình sự nên họ bỏ về. Còn ông Cù Huy Hà Vũ thì lại sẵn sàng nhận bất cứ bản án nào. Trong tình thế như vậy mà tòa vẫn tuyên án thì thật không hiểu được mục đích của phiên tòa là gì. Ấy thế nhưng các phương tiện thông tin chính thống vẫn thông báo rất hùng hồn về việc ông Vũ bị bị phạt 7 năm tù giam và 3 năm quản thúc. Phải chăng tòa và các phương tiện truyền thông đại chúng muốn biến ông Vũ thành “Mandela của Việt Nam ”?
Với cách xử án và thông tin như vừa qua, người ta không thấy ông Vũ phạm tội như thế nào, chỉ thấy ông hiên ngang chịu đựng mọi thứ người ta khoác lên đầu ông.
Những điều cay đắng đọng lại
Đọc những thông tin về vụ “Cù Huy Hà Vũ” trên báo chí chính thống, tôi có cảm giác các nhà báo của chúng ta không biết hành nghề (Mặc dù trên thực tế, chúng ta có nhiều nhà báo có trí tuệ, có bằng cấp, có kinh nghiệm và kỹ năng viết báo rất giỏi). Đó là điều cay đắng thứ nhất. Điều cay đắng thứ hai chính là ở trình độ, bản lĩnh của các quan tòa. Một vụ án quan trọng, đương nhiên phải cử những quan tòa giỏi ra để xét xử. Ấy vậy mà họ tỏ ra không hiểu biết pháp luật, hiểu biết đạo lý và thông lệ quốc tế. Điều cay đắng thứ ba là cách tổ chức phiên tòa và thái độ của các nhân viên an ninh. Việc ngăn đường, cấm đường, đánh người, bắt người có cần thiết không?
Những điều cay đắng trên dẫn đến điều cay đắng tiếp theo là chúng ta bị quốc tế phản đối, bị đặt vấn đề về nhân quyền, bị nghi ngờ về những cam kết. Giáo sư Ngô Bảo Châu rất có lý khi cho rằng: “Có cố tình làm mất thể diện quốc gia, chắc cũng khó mà làm hơn mấy ông bà này”.
Hồ Bất Khuất
Theo Blog hobatkhuat


GS Ngô Bảo Châu
Đối diện với ông Vũ là những người bắt ông bằng hai bao cao su đã qua sử dụng, là phiên tòa nửa công khai, nửa bí mật xảy ra ngày hôm qua và là ông quan tòa từ chối thực hiện thủ tục tố tụng để tránh tranh luận về nội dung những bài viết, chứng cớ về những việc được cho là vi phạm pháp luật của ông Vũ. Có cố tình làm mất thể diện quốc gia, chắc cũng khó mà làm hơn mấy ông bà này. Nghĩ mãi tôi cũng chỉ tìm ra hai cách lý giải. Khả năng thứ nhất là họ muốn làm nhanh cho xong việc. Trong trường hợp này, họ rất xứng đáng được truy cứu trách nhiệm. Khả năng thứ hai là ông quan tòa sợ phải đối mặt với những lý lẽ của ông Vũ. Trong trường hợp này, rất nên tạo điều kiện cho ông ta chuyển sang công tác khác, phù hợp hơn. Không thể lấy sự cẩu thả và sự sợ hãi làm phương pháp bảo vệ chế độ.

Chủ Nhật, 24 tháng 7, 2011

BS HỒ HẢI: VẤN ĐỀ NGOẠI GIAO

BS HỒ HẢI: VẤN ĐỀ NGOẠI GIAO: "Trong thời đại hiện nay, trong tất cả các ban ngành của một tổ chức doanh nghiệp hoặc của một đất nước vấn đề ngoại giao, có lẽ là vấn đề cố..."

Giữ vững và phát triển quyền "mở miệng"

Bùi Minh Quốc

Công cuộc đổi mới khởi sự bằng một chủ trương đúng đắn có tính nền móng, làm nức lòng người: NHÌN THẲNG VÀO SỰ THẬT, NÓI ĐÚNG NÓI RÕ SỰ THẬT.

Ai phải nhìn thẳng vào sự thật, nói sự thật và chỉ nói sự thật?

Tất cả mọi người, từ những người có quyền và trách nhiệm cao nhất đến những người thấp cổ bé miệng nhất.

Nghĩa là tất cả mọi người phải “mở miệng” – như cách gọi thật giản dị, rành mạch và dứt khoát của Chủ tịch Hồ Chí Minh - mở miệng nói sự thật.

Mở miệng là nhu cầu tự thân tự nhiên như nhu cầu ăn uống hít thở, do đó hiển nhiên là một quyền, hơn nữa là một quyền thiêng liêng, của tất cả mọi người, của mỗi con người, từ em bé 6 tuổi mới biết đọc biết viết (xin mời đọc bài của nhà báo kỳ cựu Hoàng Hưng trên BVN về một em bé sáu tuổi hỏi mẹ chuyện giặc bành trướng Trung Quốc xâm hại vùng biển nước ta), đến lão thành cách mạng 96 tuổi Nguyễn Trọng Vĩnh với lời tuyên bố lay động mọi trái tim yêu dân yêu nước yêu tự do: “Còn hơi thở còn lên tiếng!”. Không những thế, đó còn là một nghĩa vụ, như Chủ tịch Hồ Chí Minh từng khẳng định, cũng rất rành mạch và dứt khoát: “Đối với MỌI VẤN ĐỀ, mọi người tự do bày tỏ ý kiến của mình góp phần tìm ra chân lý. Đó là một quyền lợi mà cũng là một nghĩa vụ của mọi người”. Xin nhấn mạnh mấy chữ “mọi vấn đề”, nghĩa là ngoài các qui định thật cụ thể thật rõ ràng của luật pháp thì không một ai, không một cơ quan, một tổ chức nào được phép đặt ra vùng cấm (hiện nay biến tướng và được che giấu dưới hai chữ “nhạy cảm”) trong việc tự do bày tỏ ý kiến.

Mặc dù chủ tịch Hồ Chí Minh đã khẳng định dứt khoát từ hơn 60 năm trước như thế, mặc dù đã có chủ trương của đại hội Đảng lần thứ VI từ 25 năm trước như thế, nhưng mở miệng nói sự thật là cả một cuộc chiến đấu, trước hết trong nội bộ Đảng (bài này chủ yếu đề cập đến nỗ lực mở miệng của các đảng viên, bộ phận khó mở miệng nhất) vô cùng gian nan trầy trật và không ít hiểm nguy ngay cả đối với các cán bộ cao cấp. Bởi vì trong cơ quan quyền lực, bên cạnh những người đề ra chủ trương mở miệng nói sự thật lại luôn ẩn náu những phần tử sợ sự thật; những phần tử này dần dà đã kết thành thế lực, đây là cái thế lực thẻ - đỏ - tim - đen nhân danh cách mạng dùng xương máu nhân dân và đảng viên để đúc thành ngai ghế vua quan cách mạng, và tất yếu nó phải lấy việc bưng bít sự thật để giữ ngai giữ ghế, nó huy động tất cả công cụ quyền lực và tiền bạc mà nó đang nắm để bưng bít sự thật, ngăn chặn và bóp méo thông tin, bịt mồm bẻ bút những người nói sự thật.

Nhưng những người chiến sĩ cách mạng vì dân vì nước cũng kiên quyết mở miệng nói sự thật cho bằng được. Như chiến sĩ cách mạng Kim Ngọc, từ giữa những năm sáu mươi thế kỷ trước, không sợ bị mất chức, thậm chí có thể mất Đảng, mất mạng, kiên quyết mở miệng nói (và làm) ngắn gọn: “ Khoán !”. Đây là nói và làm theo mệnh lệnh không phải từ trên áp xuống mà bật lên từ một thực tế bức bối – cuộc sống khốn cùng của người nông dân xã viên sắp chết đói ngay trên đồng ruộng vốn là của họ nhưng đã bị biến thành thứ tài sản tập thể cha chung không ai khóc - là mệnh lệnh đầy sức mạnh của một sự thật sắc nhọn đã chọc thủng cái tấm màn dối trá khổng lồ bao trùm toàn xã hội được dệt bằng những sợi xích giáo điều phản khoa học thâm căn cố đế trói buộc tư duy của cả một đảng luôn tự xác định là đảng khoa học và cách mạng. Noi gương Kim Ngọc, Bí thư Thành ủy Hải Phòng Đoàn Duy Thành (sau là Phó Thủ tướng) đã can đảm không thực hiện chỉ thị Z30, một chỉ thị đầy tội lỗi, phi lý phi pháp ra lệnh tịch thu tài sản của những người có nhà từ hai tầng trở lên, dù cho chỉ thị đã được triển khai thực hiện ở Hà Nội và báo Nhân dân có cả loạt bài phê phán những nơi chưa chịu thực hiện. Cùng mối tương tri tương đắc với Bí thư Thành ủy Hải Phòng, Bí thư Tỉnh ủy Nam Định Nguyễn Văn An (sau là Chủ tịch Quốc hội) cũng không thực hiện chỉ thị Z30. Tại hội nghị BCH Trung ương Đảng giữa năm 1983, Bí thư Thành ủy Hải Phòng Đoàn Duy Thành đã khẳng khái lên tiếng phản đối chỉ thị Z30, trên cơ sở phân tích có lý có tình, căn cứ vào mục tiêu không thể tranh cãi của cách mạng là phải đem lại hạnh phúc cho dân. Chỉ thị Z30 đã phải bãi bỏ, tránh cho Đảng dấn sâu vào một sai lầm khốc hại và tránh cho dân một tai họa khủng khiếp như thời Cải cách ruộng đất và Cải tạo công thương nghiệp tư doanh. Sau này, khi trả lời phỏng vấn trên báo Pháp luật TP HCM, cựu Phó Thủ tướng Đoàn Duy Thành cho rằng: nếu chỉ thị Z30 không bị bãi bỏ mà đem thực hiện trên tất cả các tỉnh thành như ở Hà Nội đã làm thì chắc sẽ khó có đổi mới. Tôi (Bùi Minh Quốc) thì cho rằng không những khó có đổi mới mà còn khó tránh một thảm họa mới: đảng viên, trước hết là những cán bộ cao cấp trung kiên vì dân vì nước sẽ là nạn nhân của một cuộc “đồng chí” ăn thịt đồng chí, nhân dân sẽ là nạn nhân của một dạng diệt chủng mới, Đảng sẽ lâm vào một cuộc tự sát về chính trị và văn hóa còn trầm trọng hơn thời Cải cách ruộng đất, nước CHXHCN Việt Nam sẽ chẳng khác gì CHDCND Triều Tiên! Ngẫm lại thời ấy, vào năm 1983, khi hàng chục vạn bộ đội ta, một lực lượng lao động hùng hậu đang rất cần cho đất nước đã kiệt quệ sau 30 năm chiến tranh lại bị sa lầy ở Campuchia, biên giới phía Bắc thì vẫn luôn nóng bỏng, kẻ địch bành trướng đang ráo riết chuẩn bị thêm những đợt tấn công lớn (nhưng thông tin chính thức đến nay vẫn bị bưng bít), mới thấy hết tính chất đặc biệt nguy hiểm và thâm hiểm của chỉ thị Z30. Mà lại là chỉ thị miệng, không có tác giả (thực ra là có, đương nhiên là có, nhưng núp trong bóng tối, và cái cấu trúc của cỗ máy quyền lực không có cơ chế hãm bên trong và hệ thống giám sát từ bên ngoài với tình trạng công tác cán bộ nằm trong tay một người hoặc một nhóm người vận hành khép kín luôn lẩn tránh nguyên tắc công khai khiến cho những người chiến sĩ cách mạng dám mở miệng nói sự thật không thể truy kích đến cùng để làm rõ bản lai diện mục cái thế lực thẻ - đỏ - tim - đen sợ sự thật mang tên Z30 ấy, và nó vẫn tiếp tục từ trong bóng tối ra sức tác oai tác quái). Tương tự như Kim Ngọc, Đoàn Duy Thành, Nguyễn Văn An, ở TP HCM, Bí thư Thành ủy Võ Văn Kiệt (sau là Thủ tướng) cùng các đồng chí chiến sĩ cách mạng chí cốt với quyết tâm sẵn sàng bị mất chức, sẵn sàng cơm đùm cơm nắm đi thăm nuôi nhau nếu có ai bị ở tù, đã dũng cảm dám nghĩ dám nói dám làm, dứt bung những rào cản giáo điều để thực hiện đổi mới, tạo cơ sở thực tiễn cho đường lối đổi mới chính thức được đại hội Đảng lần thứ VI thông qua. Viết đến đây, tôi xin được dừng lại một phút để thắp nén tâm hương tưởng niệm các chiến sĩ cách mạng Kim Ngọc, Võ Văn Kiệt với niềm tri ân sâu sắc. Đồng thời tôi cũng thắp lên nén tâm hương tưởng niệm và tri ân một con người thấp cổ bé miệng từ một làng quê nghèo bên bờ sông Chu – Thanh Hoá, một đêm kia đã dám mở miệng nói sự thật. Đó là nhà báo (huyện) Phùng Gia Lộc, tác giả bài bút ký nổi tiếng “Cái đêm hôm ấy …đêm gì?”, đăng trên báo Văn nghệ số ra ngày 23 tháng 1 năm 1988. Phùng Gia Lộc không phải là nhà văn chuyên nghiệp, nhưng cái tình cảnh bị truy bức hãi hùng của người nông dân xã viên quê anh và chính gia đình anh dưới ách cả một tập thể cường hào thẻ đỏ chẳng khác gì tình cảnh “Bước đường cùng” của người nông dân trong tiểu thuyết Nguyễn Công Hoan trước Cách mạng Tháng Tám 1945 đã buộc anh phải cầm lấy bút. Từ những dòng chữ trần trụi sự thật của anh bật lên tia chớp xé toang cái bóng đêm trung cổ bấy lâu trùm phủ đời sống nông thôn Việt Nam khiến cả xã hội giật mình. Trước hết là những người lãnh đạo phải giật mình sau mười mấy năm say sưa với đại thắng, miệng chỉ quen cao giọng những “vĩ đại”, những “vô địch” với “muôn năm”, tai chỉ quen nghe những lời xưng tụng bốc thơm hết cỡ như “hiện thực của ta là vô cùng tốt đẹp, chỉ cần sao chép nguyên xi cũng đủ để có tác phẩm lớn” (!) mà đích thân người viết bài này đã nghe Ủy viên Bộ chính trị Trưởng Ban tuyên giáo trung ương Tố Hữu phát biểu chỉ đạo tại Hội nghị các nhà văn đảng viên (Hà Nội, tháng 6.1979, do Bí thư đảng đoàn Hội nhà văn Nguyên Ngọc chủ trì). Phùng Gia Lộc chỉ đơn giản ghi lại trung thực cái sự thật đời sống “vô cùng không tốt đẹp” mà bản thân anh và gia đình anh là một phần trong đó, chắc cũng không nhằm làm nên tác phẩm lớn, nhưng sự mở miệng của anh rõ ràng là vô cùng có ích. Tưởng niệm và tri ân Phùng Gia Lộc, tôi cũng đồng thời tưởng niệm và tri ân nhà thơ quá cố Bế Kiến Quốc – Biên tập viên báo Văn nghệ, người đã cưu mang Phùng Gia Lộc khi anh phải trốn khỏi Thanh Hoá để tránh sự hãm hại của cái thế lực Z30 hét ra lửa ở tỉnh nhà. Cũng cần phải thấy rằng, sự mở miệng của Phùng Gia Lộc khó có thể bật lên được nếu không có một bà đỡ mát tay là nhà văn Nguyên Ngọc – Tổng biên tập báo Văn nghệ. Dựa vào chỉ thị 15 của Ban Bí thư về đổi mới công tác báo chí và tiếp đó là nghị quyết 05 của Bộ Chính trị về văn hoá văn nghệ, tận dụng tối đa quyền hạn và trách nhiệm của một Tổng biên tập mà các chỉ thị nghị quyết ấy mở ra, đồng thời với tinh thần tích cực chủ động cao nhất, Nguyên Ngọc mau chóng đưa báo Văn nghệ trở thành một trong mấy tờ báo đi đầu trên mặt trận mở miệng (gọi chung là thông tin) nói sự thật. Bạn đọc xếp hàng từ sớm để chờ mua báo Văn nghệ. Rồi Lao động, Tuổi trẻ… Rồi Phụ nữ TP HCM, Sông Hương, Cửa Việt… hàng chục tờ báo, tạp chí nối tiếp nhau giành được sự quan tâm nồng nhiệt của bạn đọc ngày càng rộng rãi theo đà tăng lên của hàm lượng sự thật/thông tin. Sức mạnh của sự thật của thông tin đã khiến ông quan đầu tỉnh xứ Thanh mất ghế. Nhân dân khấp khởi hy vọng: mắt Đảng vẫn còn dám nhìn sự thật, tai Đảng vẫn còn biết lắng nghe tiếng kêu của dân, tim Đảng vẫn đập cùng một nhịp với tim dân, đời vẫn còn công lý. Niềm tin vào đổi mới được nhen thêm. Nhưng ít ai biết vẫn có một thế lực Z30 núp trong bóng tối luôn nhân danh “sự lãnh đạo của Đảng” để giữ ngai giữ ghế vua quan cách mạng bằng những đòn phép kiểu Cải cách ruộng đất và Cách mạng văn hoá Tàu, tất nhiên được Việt Nam hóa bằng những thủ thuật ngụy trang rất xảo quyệt. Ban chấp hành Hội nhà văn (họp giữa tháng 9.1988) ra nghị quyết phê phán báo Văn nghệ “lệch lạc nghiêm trọng”. Tổng biên tập Nguyên Ngọc bị “thôi” chức (cách chức trá hình dưới dạng chuyển sang nhiệm vụ phụ trách hậu cần cho đại hội của Hội sắp họp). Điều đáng buồn là tại Hội nghị Ban chấp hành Hội Nhà văn, cơ quan lãnh đạo của một tổ chức thoát thai từ Văn hóa Cứu Quốc gồm toàn những chiến sĩ – nghệ sĩ, những người tự coi và được coi là đại diện cho lương tri của dân tộc, lại không có một chiến sĩ nào dám đứng lên phát biểu chủ kiến riêng của mình như Đoàn Duy Thành tại Hội nghị Trung ương, như Đốt-xtôi-ép-xki đại văn hào Nga đã viết từ hàng trăm năm trước: “Bước một bước mới, nói lên một lời mới do chính mình nghĩ ra”. Không, không một ai dám như thế, mặc dù họ đã đọc Đôtx, đã thừa biết tư duy độc lập, tự do ngôn luận là chuyện sinh tử của người trí thức, họ đều tâm đắc những lời này của F. Mit-tơ-răng (Tổng thống Pháp): “Im lặng nuôi dưỡng tội ác”, của M. Bun-ga-cốp (nhà văn Nga thời xô-viết): “Không có một nhà văn nào lại có thể im lặng được. Nếu y im lặng thì có nghĩa đó không phải là nhà văn chân chính. Còn nếu một nhà văn chân chính mà im lặng thì y sẽ chết”. Tiện thể kể thêm, đây là lần thứ hai Nguyên Ngọc bị mất chức. Lần đầu là sau Hội nghị nhà văn đảng viên (tháng 6/1979) đã kể trên. Tại hội nghị quan trọng đó, với cương vị Bí thư đảng đoàn, Nguyên Ngọc đọc báo cáo đề dẫn nêu lên những ý tưởng đổi mới được đánh giá là rất mạnh bạo để hội nghị thảo luận (xin mời đọc “Mấy kỷ niệm làng văn bị trói” của Bùi Minh Quốc trên mạng internet). Quả nhiên “Đề dẫn” lập tức tạo ra trong hội nghị một không khí hồ hởi chưa từng có, được thảo luận một cách dân chủ và thoải mái, sôi nổi. Nhưng ngày thứ ba của hội nghị, Ủy viên Bộ chính trị Trưởng Ban tuyên giáo trung ương Tố Hữu đến phát biểu, đập tơi bời những luận điểm cơ bản của “Đề dẫn” mà hội nghị qua thảo luận đã tán thành. Bao nhiêu hồ hởi ngày hôm trước lập tức xẹp xuống, thay vào đó là một không khí hoang mang, ngơ ngác, lo sợ. Nhưng, thật đáng khâm phục, giữa bầu khí nặng nề ấy, khi phát biểu bế mạc, Bí thư đảng đoàn Nguyên Ngọc vẫn rất kiên quyết và cũng rất mềm mỏng mở miệng nói sự thật bằng kết luận:“Qua thảo luận, hội nghị đã cơ bản nhất trí với “Đề dẫn”, đồng thời chúng ta cần nghiêm túc nghiên cứu ý kiến đồng chí Tố Hữu”. Nguyên Ngọc đã tỏ rõ bản lĩnh tư duy độc lập, sáng tạo của người trí thức chân chính, và khí phách của người chiến sĩ chiến đấu cho Tự do. Với tư cách Bí thư đảng đoàn, anh một lần nữa nhắc nhở các đồng chí của mình trong Hội một điều cốt tử mà người ta dễ quên khi có chức có quyền: Tự do là giá trị cao quý nhất, chức vụ mà Đảng giao cho ta không phải là cái ghế để hưởng đặc quyền đặc lợi mà là vị trí chiến đấu của người chiến sĩ cách mạng chiến đấu cho Tự do. Tôi cho rằng, kể từ sau ngày 30.4.1975, trên phạm vi cả nước, chỉ bằng mấy tiếng ngắn gọn chắc nịch “Hội nghị đã cơ bản nhất trí với Đề dẫn”, Bí thư đảng đoàn Nguyên Ngọc là người đầu tiên công khai ôm khối bộc phá “Đề dẫn” xông lên mở cửa đột phá cho mặt trận mở miệng/thông tin. Nghe vang lên câu thơ quyết liệt rực lửa Tự do của Thu Bồn: “Hỡi những người nô lệ đừng quên/Tôi là bộc phá viên!”. Sau Hội nghị nhà văn đảng viên, Nguyên Ngọc bị kiểm điểm (thực chất là bị đấu tố, truy bức), hứng chịu những làn đạn công kích khét lẹt mùi Z30. Trên mặt báo, xuất hiện loạt bài đánh Nguyên Ngọc, và đánh Hoàng Ngọc Hiến, tác giả của luận điểm nổi tiếng có tính phát hiện về “chủ nghĩa hiện thực phải đạo” như một đặc điểm, một chỗ yếu trầm trọng của văn học Việt Nam hiện đại đăng trên Văn nghệ được/bị coi là do sự chỉ đạo của Bí thư đảng đoàn Nguyên Ngọc. Ác hại và bi đát thay, trong số những loạt đạn ngôn từ khét lẹt mùi Z30 lại có cả hỏa lực của các xạ thủ bậc thầy, các tên tuổi tầm cỡ, mới đó vừa cùng ngồi trong đảng đoàn nhiệt liệt tán đồng và thông qua bản “Đề dẫn” do Nguyên Ngọc soạn thảo. Ở lần mất chức thứ hai của Nguyên Ngọc thì tình hình có khác, giữa khí thế đổi mới đang mạnh, các tên tuổi tầm cỡ kia không dám xuất đầu lộ diện trên mặt báo, chỉ dùng mấy bức thư gửi Ban bí thư và Ban chấp hành Hội (đồng thời truyền tay trong hội viên) để đả kích Nguyên Ngọc và gián tiếp miệt thị Trưởng Ban văn hóa văn nghệ trung ương Trần Độ, người có công chuẩn bị cho Bộ Chính trị ra Nghị quyết 05, một nghị quyết làm nức lòng giới văn nghệ lúc bấy giờ mà chính các tác giả mấy bức thư kia từng hồ hởi tán dương. Trong khi đó nhiều tờ báo, nhất là Tuổi trẻ, rộ lên những tin bài bênh vực báo Văn nghệ và Tổng biên tập Nguyên Ngọc. Tạp chí Lang Biang số 3 của Hội Văn nghệ Lâm Đồng do Bùi Minh Quốc Chủ tịch Hội làm Tổng biên tập ra tháng 6.1988 đăng “Đề dẫn” của Nguyên Ngọc (đây là ấn phẩm đầu tiên và duy nhất công bố “Đề dẫn”). Thượng tuần tháng 11.1988, Hội Văn nghệ Lâm Đồng thực hiện một chuyến đi dọc miền Trung và Tây Nguyên ký chung kiến nghị với một số hội bạn gửi Trung ương yêu cầu thể chế hóa Nghị quyết 05 để sớm thực hiện, đồng thời cùng một số cán bộ chủ chốt của các hội bạn và nhiều anh chị em viết văn viết báo và các công dân hưởng ứng đổi mới ký chung một bản tuyên bố yêu cầu đẩy mạnh công cuộc đổi mới, đánh giá cao đóng góp tích cực của tuần báo Văn nghệ và Tổng biên tập Nguyên Ngọc, nghiêm khắc phê phán những biểu hiện đổi mới chập chờn, những hành động cản trở đổi mới, phản đối nghị quyết của Ban chấp hành Hội nhà văn về báo Văn nghệ, yêu cầu cách chức một số người trong Ban tuyên giáo Trung ương và Bộ Thông tin. Bản tuyên bố được tham gia ký bởi nhiều người ở các địa phương dọc đường mà đoàn Văn nghệ Lâm Đồng đi qua, ra đến Hà Nội tổng cộng có 118 chữ ký. Tháng 12.1988, báo Nhân dân đăng bài của Trưởng Ban tuyên giáo Trung ương Trần Trọng Tân có đoạn phê phán điều gọi là “hoạt động bè phái của một số người trong Hội Văn nghệ Lâm Đồng”. Năm 1995, tại Đại hội lần thứ 5 Hội Nhà văn Việt Nam, nhà văn Xuân Cang Trưởng Ban kiểm tra của Hội công bố báo cáo kiểm tra có phần đánh giá hoạt động của hai nhà văn Bùi Minh Quốc, Tiêu Dao Bảo Cự trong chuyến đi của đoàn Văn nghệ Lâm Đồng là “bình thường, bổ ích và phù hợp với quá trình dân chủ hóa, không có biểu hiện bè phái”. Cũng trong khuôn khổ Đại hội lần thứ 5 Hội Nhà văn Việt Nam, Tổng bí thư Đỗ Mười mời gặp nhà thơ Bùi Minh Quốc, người chịu trách nhiệm về hoạt động trong chuyến đi của đoàn Văn nghệ Lâm Đồng, trực tiếp nghe báo cáo vụ việc và hứa sẽ giao cho Ban tổ chức Trung ương, Ủy ban kiểm tra Trung ương nắm lại nội dung vụ việc và sẽ có văn bản kết luận (cùng dự nghe còn có các Ủy viên Bộ Chính trị Đào Duy Tùng và Nguyễn Đức Bình). Nhưng cho đến nay vẫn chưa có một văn bản kết luận nào của Trung ương về vụ này. Điều đó càng cho thấy những người lãnh đạo ở cấp cao nhất đã mặc nhiên thừa nhận nội dung tuyên bố 118 chữ ký là đúng đắn và nhạy bén, báo động rất sớm về những hành động kiểu Z30 cố ý thủ tiêu quyền mở miệng nói sự thật của trí thức văn nghệ sĩ và của toàn dân.Tiếp theo việc Nguyên Ngọc bị “thôi” chức là Bùi Minh Quốc, Tiêu Dao Bảo Cự (Hội Văn nghệ Lâm Đồng) bị khai trừ, cách chức. Rồi Xuân Cang (TBT báo Lao động), rồi Kim Hạnh (TBT báo Tuổi trẻ), Tô Nhuận Vỹ (TBT tạp chí Sông Hương), Hoàng Phủ Ngọc Tường (TBT tạp chí Cửa Việt), Thế Thanh (TBT báo Phụ nữ TP HCM) phải rời khỏi chức vụ một cách êm nhẹ, gọi lịch sự là chuyển công tác theo sự phân công của tổ chức.

Tất cả những biện pháp về tổ chức phi lý, bất công, độc đoán nêu trên đều nhằm thủ tiêu chủ trương mở miệng nói sự thật, đẩy văn nghệ sĩ trí thức và hoạt động báo chí xuất bản chui trở lại vào vòng trói buộc mà mới đó vừa được hô “cởi trói”. Số lượng báo chí ngày càng tăng nhưng hàm lượng sự thật/thông tin trên mặt báo ngày càng sa sút, nhất là thông tin về sự hoành hành của giặc bành trướng và giặc nội xâm – hai hiểm họa lớn đang hàng ngày đè nặng lên vận mệnh Tổ Quốc và đời sống nhân dân. Nhà thơ (tự do) Nguyễn Viện dồn dập nêu câu hỏi (trên mạng internet):

1. Quốc hội Việt Nam người Tàu hay người Việt?

2. Chính phủ Việt Nam người Tàu hay người Việt?

3. Báo chí và Truyền hình Việt Nam quan tâm đến cái gì nhất:

A- Bóng đá?

B- Sexy show Hoàng Thùy Linh, Yến Vi?

C- Tàu chiếm Hoàng Sa & Trường Sa?

4. Bao nhiêu người có câu trả lời giống bạn?

Báo Nhân dân, cơ quan ngôn luận của Đảng lại không phải là tờ báo thể hiện được vai trò tiền phong gương mẫu trong nhiệm vụ nhìn thẳng vào sự thật, mở miệng/thông tin nói sự thật, chống bành trướng, chống nội xâm, thực hành dân chủ. Tổng biên tập Báo điện tử ĐCSVN Đào Duy Quát đưa tin (vô tình hay cố ý?) có lợi cho thế lực bành trướng, phương hại đến việc khẳng định chủ quyền biển đảo của quốc gia nhưng chỉ bị cảnh cáo trong khi đáng lẽ phải khai trừ cách chức ngay lập tức, một kiểu xử lý rất hữu khuynh nếu không nói là biểu hiện của thái độ chư hầu. Mà rõ là một kiểu tự bày tỏ tư cách chư hầu rồi chứ còn gì nữa, khi mà vào dịp kỷ niệm 30 năm giúp nước bạn Campuchia thoát nạn diệt chủng (7.1.1979 – 7.1.2009), chiến thắng giặc bành trướng xâm lược các tỉnh biên giới phía bắc (17.2.1979 – 17.2.2009), báo chí im tịt không một dòng tưởng niệm các liệt sĩ. Không thể lấy việc cần phải mềm dẻo giữ tình giao hảo giữa hai quốc gia để biện minh cho một thái độ vô cảm bạc bẽo đối với xương máu của chiến sĩ và đồng bào trong quá khứ như thế.Toàn Đảng toàn dân không thể không mở miệng nêu lên câu hỏi hệ trọng bức thiết hàng đầu này với Tổng bí thư - Bí thư quân ủy trung ương: bộ đội ta lấy đâu ra tinh thần để chiến đấu khi họ chứng kiến cái cảnh đảng viên cán bộ trong giới cầm quyền hiện nay sống một đời sống phè phưỡn hoàn toàn cách biệt với dân, trụ sở cấp ủy càng to tát nghênh ngang thì lòng yêu nước và ý thức về chủ quyền quốc gia càng teo tóp, nhạt nhẽo mơ hồ đến mức có Chi ủy viên coi Hoàng Sa là bãi hoang chim ỉa mà cấp trên cũng ngậm miệng lờ tịt, không ai nhắc gì đến bao anh hùng liệt sĩ mà dòng máu vẫn đang nóng bỏng dưới chân mỗi người đang sống hôm nay, đang cuộn chảy phẫn nộ trong những cánh rừng bị bán đi, trên những vùng dự án tại các địa bàn chiến lược hiểm yếu liên tiếp mọc lên các khu cư trú khép kín của lao động phổ thông Trung Quốc? Thiếu gì cách đưa tin bài để vừa thể hiện được tấm lòng của những người đang sống hôm nay đối với các anh hùng liệt sĩ và các gia đình thương binh liệt sĩ mà vẫn giữ được sự mềm dẻo thích đáng trong đối ngoại. Cần nghiêm khắc để thấy rõ, chính thái độ thờ ơ bạc bẽo của người cầm quyền đối với sự hy sinh của bao anh hùng liệt sĩ trên mặt trận chống bành trướng đã làm suy yếu nghiêm trọng nội lực dân tộc và chỉ càng kích thích thế lực bành trướng Bắc Kinh hung hăng lấn tới. Quyền chủ động của các Tổng biên tập hầu như bị bóp siết dúm dó đến thảm hại, 700 tờ báo nhưng coi như chỉ có một Tổng biên tập là Trưởng Ban tuyên giáo trung ương, xu hướng lá cải, sexy hóa, playboy hóa báo chí đang có chiều lấn át. Nhà văn (Hội viên Hội Nhà văn VN) Thùy Linh kêu lên: (báo chí) sexy tất cả trừ lòng yêu nước! Nhà thơ (Hội viên Hội Nhà văn VN) Trần Mạnh Hảo kêu lên: “Tôi yêu nước mà tôi bị bắt !”. Từ Hội nghị nhà văn đảng viên (tháng 6.1979) với“Đề dẫn” của Bí thư đảng đoàn Nguyên Ngọc đến Đại hội lần thứ 8 Hội nhà văn Việt Nam (tháng 8.2010) với báo cáo chính trị của bí thư đảng đoàn chủ tịch Hội Hữu Thỉnh là một tình trạng tuột dốc thê thảm về tư cách kẻ sĩ – trí thức tư duy độc lập, về tư cách yêu nước của Hội đến nỗi đại hội không thể ra được một bản tuyên bố về trách nhiệm của nhà văn trước tình hình đất nước bị giặc bành trướng ngang ngược xâm hại và giặc nội xâm ngang nhiên cướp lột, hệt như hình ảnh trong câu thơ của chiến sĩ – thi sĩ Thanh Thảo tiên tri từ 2008: “Cứ tự mình dán băng keo vào miệng/ Yêu tổ Quốc chỉ còn nghe ú ớ”. Trong lịch sử dân tộc, có bao giờ trí thức văn nghệ sĩ tự bộc lộ trước nhân dân cả nước và thế giới một tư thế đáng xấu hổ như thế chưa? (Nhà báo Sáu Nghệ bình phẩm: “nói đáng xấu hổ vẫn còn là lịch sự!”). Chỉ thị của Ban Bí thư ghi rõ “Đại hội là một sinh hoạt chính trị quan trọng…”, như vậy cái tư cách chính trị của Hội Nhà văn thể hiện ở Đại hội 8 là chính trị gì? Nó tuyệt nhiên không phải là cái chính trị kế tục truyền thống yêu nước vì dân của Văn hóa Cứu Quốc, khiến toàn thể đảng viên và nhân dân chỉ có thể hiểu rằng Bí thư đảng đoàn Hữu Thỉnh đã tiến hành đại hội theo một sự chỉ đạo ngầm kiểu Z30 chứ không phải theo chỉ thị của Ban bí thư? Hay chính Ban bí thư, Bộ Chính trị cũng chưa thoát ra khỏi vòng kiềm tỏa của thế lực thẻ - đỏ - tim - đen Z30? Hay cái tố chất Z30 tồn tại ngay trong con người mỗi ủy viên Bộ chính trị, mà chất Z30 với chất Lê Chiêu Thống thì vốn tuy hai mà một? Tôi vẫn cố để không nghĩ rằng các Ủy viên Bộ chính trị không còn là người yêu nước nữa nhưng những sự thật sờ sờ đó buộc tôi phải nghĩ rằng ở cái trung tâm thâu tóm mọi quyền lực của đất nước này, cái vị trí “vua tập thể” này – như cựu Chủ tịch Quốc hội Nguyễn Văn An đã gọi tên một cách xác đáng – lẽ sống không có gì quý hơn Độc lập Tự do đang lùi dần nhường chỗ cho lẽ sống không có gì quý hơn chiếc ghế quan to, dòng máu thắm yêu nước vì dân đang từng ngày từng giờ bị tiêu biến trước sức lấn lướt hung hãn của dòng máu đen yêu ghế đè dân. Mà không chỉ đè dân. Đè nén ngay cả các lão đồng chí tiền bối. Vụ bịt miệng Đại tướng Võ Nguyên Giáp nhằm cố dập tắt tiếng nói phản đối phá hội trường Ba Đình là sự kiện điển hình. Bức thư của Đại tướng gửi Bộ Chính trị không những không được trả lời, mà khi Tổng biên tập báo Đại đoàn kết đăng lên thì bị cách chức. Đây quả là một cử chỉ thách thức quyền mở miệng của Đại tướng, của toàn Đảng, toàn quân, toàn dân. Tôi cho rằng đây là hành vi của thế lực Z30 chứ không thể nào là của Bộ Chính trị một Đảng đã chủ trương nhìn thẳng vào sự thật, dân biết dân bàn, tăng cường thông tin nhiều chiều, đối thoại, lắng nghe, tôn trọng các ý kiến khác biệt. Tôi tin rằng không thể nào 100% Ủy viên Bộ Chính trị (khóa 10) đều nhất trí với chủ trương quá đỗi thất nhân tâm (và cũng là sự dại dột tự hủy hoại uy tín chính trị) này. Tôi rất muốn biết, trong Bộ Chính trị khóa 10, những ai đã bỏ phiếu thuận, những ai bỏ phiếu chống, những ai bỏ phiếu trắng khi biểu quyết chủ trương phá bỏ một di tích gắn với bao sự kiện lịch sử quan trọng trong hoạt động của Đảng và Chủ tịch Hồ Chí Minh như vậy? Ai đã chủ xướng, và những ai đã bỏ phiếu thuận? Tôi rất muốn biết. Và tôi chắc rằng tất cả những ai đã dâng hiến đời minh cho lẽ sống KHÔNG CÓ GÌ QUÝ HƠN ĐỘC LẬP TỰ DO và tất cả lớp con em đang tiếp bước họ cũng đều rất muốn biết. Đổ bao nhiêu xương máu vì Độc lập Tự do để rồi phải chịu thảm cảnh đến Đại tướng Võ Nguyên Giáp cũng bị mất quyền mở miệng nói sự thật thì không thể nào chấp nhận được. Cũng như mọi người đều thấy không hề có một chủ trương nào cho phép cấm đoán, cản trở các cuộc biểu tình của nhân dân lên tiếng bày tỏ lòng yêu nước, phản đối hành động ngang ngược của thế lực bành trướng Bắc kinh đối với chủ quyền biển đảo nước ta, việc làm ăn sinh sống của ngư dân ta, vậy mọi người phải được biết ai đã ra lệnh cho lực lượng công an bắt giữ, “mời làm việc” những người yêu nước tham gia biểu tình tại Hà Nội, TP HCM những ngày vừa qua? Tôi rất hoan nghênh ý kiến của Ủy viên Bộ Chính trị (khóa 10, 11) Phạm Quang Nghị phát biểu cách đây chưa lâu về việc phải đảm bảo thông tin kịp thời, chính xác, đầy đủ, toàn diện những gì đã xảy ra. Vậy các bức thư, kiến nghị, tuyên cáo của Đại tướng Võ Nguyên Giáp, các lão thành cách mạng, các tướng lĩnh cùng hàng trăm nhân sĩ trí thức và hàng ngàn công dân lên tiếng về quốc sự phải được thông tin rộng rãi trên báo đài, đưa về tận thôn cùng xóm vắng, đưa vào nội dung sinh họat của từng chi bộ, từng tổ nông hội, từng tổ công đoàn, từng chi đoàn TNCS HCM, chi hội học sinh, sinh viên thảo luận thật kỹ xem bao nhiêu người tán thành, bao nhiêu người chưa tán thành, bao nhiêu người còn phân vân, bao nhiêu người phản đối. Như thế mới là thực hiện chủ trương của Đảng tăng cường thông tin nhiều chiều, đối thoại, lắng nghe. Cần mau chóng biến chủ trương này thành nếp bình thường, thường xuyên của tổ chức đảng và các hội đoàn, đưa tổ chức đảng và các hội đoàn thoát khỏi tình trạng sinh hoạt hời hợt, hình thức, vô hồn mà cuộc Đại hội lần thứ 8 của Hội nhà văn VN với chi phí rất tốn kém tôi vừa kể trên là một bài học phản diện điển hình. Phải luôn nhớ rằng tổ chức đảng và các hội đoàn được gây dựng bồi đắp bằng xương máu mồ hôi và tài sản của bao thế hệ đảng viên và quần chúng trong quá khứ, nay ta cam chịu ngồi nhìn sự thao túng của chủ nghĩa Z30 (= ăn cướp) kết hợp với chủ nghĩa mackeno khiến các tổ chức này thoái hóa thành một thứ bình phong bệ đỡ cho ngai ghế của một thiểu số chức sắc nhân danh cách mạng để làm vua quan cách mạng, là một tội lớn đối với Đảng, với dân và với chính bản thân mình.Thông tin nhiều chiều, đối thoại, lắng nghe lẫn nhau, bình đẳng trao đổi thảo luận một cách ôn hòa trầm tĩnh, tiếp nhận nhau và làm phong phú lẫn nhau giữa người lãnh đạo với nhân dân, đấy là một trong những việc bắt buộc phải gấp rút làm để khôi phục quan hệ gắn bó máu thịt giữa Đảng với nhân dân đã bị hủy hoại gần như sạch trơn. Tôi hoan nghênh Bí thư Thành ủy Hà Nội Phạm Quang Nghị gần đây đã bước đầu thực hiện được phần nào công việc ấy tại Đại hội Liên hiệp các Hội văn học nghệ thuật Hà Nội (LHHVHNTHN). Dù đang bận họp Hội nghị Trung ương 2, “Bí thư Thành ủy Phạm Quang Nghị đã dành hẳn cả một buổi sáng để lắng nghe ý kiến tham luận của các văn nghệ sĩ Thủ đô và ông có cuộc trao đổi khá cởi mở với các đại biểu về đề tài bảo vệ chủ quyền biển đảo của Tổ quốc” (trích tường thuật của nhà báo nhà thơ Nguyễn Việt Chiến, Ủy viên BCH Hội nhà văn Hà Nội). Trong các ý kiến của văn nghệ sĩ, đặc biệt đáng chú ý là bài tham luận “Văn học nghệ thuật của lòng yêu nước” của nhà văn Phạm Xuân Nguyên, Chủ tịch Hội nhà văn Hà Nội, Phó chủ tịch LHHVHNTHN (trích): “… những ngày này Biển Đông đang làm nổi sóng yêu nước của những người dân Việt Nam, yêu sách phi lý về đường lưỡi bò chín đoạn trên biển và những hành động trắng trợn, ngang ngược phía Trung Quốc đối với các tàu bè và ngư dân Việt Nam đang hoạt động, làm ăn trong vùng biển thuộc chủ quyền của mình đã khiến toàn thể dân ta bất bình, phẫn nộ và kiên quyết đấu tranh, phản đối. Và chúng ta đang đấu tranh bằng con đường hòa bình, bằng ngoại giao nhân dân và nhà nước. Trong cuộc đấu tranh này, cần đến sức mạnh của văn học nghệ thuật và quả thực vũ khí văn nghệ đã và đang tác dụng mạnh mẽ. Có đi tuần hành cùng nhân dân, mới thấy lời thơ, tiếng hát có tác dụng đến thế nào trong sự biểu lộ tình cảm yêu nước cùng nhau đoàn kết quyết tâm bảo vệ chủ quyền và toàn vẹn lãnh thổ của non sông tổ quốc”.(…)“Mỗi chúng ta, là công dân, là người cầm bút, cầm cọ, cầm đàn, đừng để cuộc sống thanh bình đầy đủ tiện nghi vật chất trên đất liền, ở các thành phố, ở giữa thủ đô, che khuất tầm nhìn về hướng biển, về những người lính, người dân đang ngày đêm vật lộn với sóng nước, chống đỡ với những mưu toan thâm độc của kẻ láng giềng nước lớn hung hãn, đang lấy thân mình che cho tổ quốc khỏi cơn cuồng phong xâm lược có thể xảy đến bất cứ lúc nào. Chúng ta, các văn nghệ sĩ thủ đô, hãy có thêm những sáng tác mới cho/vì người dân người lính nơi hải đảo, giữa trùng khơi. Đó là cách chúng ta biểu lộ lòng yêu nước của mình. Đó là cách chúng ta thể hiện sự phản đối âm mưu của kẻ xấu. Đó là cách chúng ta xứng đáng với danh hiệu “Hà Nội – thành phố vì hòa bình”.

Tôi đề nghị đại hội chúng ta ngay bây giờ hãy có một hình thức cụ thể bày tỏ tấm lòng của các văn nghệ sĩ thủ đô Hà Nội đối với đồng bào và chiến sĩ ở Hoàng Sa - Trường Sa, hai quần đảo thiêng liêng thuộc chủ quyền Việt Nam”.

Chủ tịch Phạm Xuân Nguyên đã nói tiếng nói của lòng mình, lòng dân, cái tiếng nói mà nhân dân đã hết sức thất vọng, sau bao trông đợi lại không được nghe cất lên từ Chủ tịch Hữu Thỉnh tại diễn đàn Đại hội 8 của Hội Nhà văn Việt Nam. Cám ơn Chủ tịch Phạm Xuân Nguyên, anh đã nhen lại cho tôi chút niềm tin và hy vọng vào phẩm chất người đảng viên tiền phong gương mẫu, vào bản lĩnh kẻ sĩ – trí thức tư duy độc lập, vào khí phách người chiến sĩ cách mạng chiến đấu cho Tự do. Phẩm chất ấy, bản lĩnh ấy, khí phách ấy, sau bao năm bị xúc phạm, bị vùi dập, bị hình sự hóa, đã lại bật dậy, trên đường phố Sài Gòn, trước mặt Đại sứ quán Trung Quốc, trên quảng trường Nhà hát Lớn, trên diễn đàn Đại hội Văn nghệ Thủ đô. Phạm Xuân Nguyên không phải Hội viên Hội nhà văn Việt Nam, một danh xưng mà khá nhiều người cầm bút còn đang ham muốn, thậm chí nghe đâu có người phải cố tìm cách “chạy” để kiếm một tấm thẻ. Ấy vậy mà anh lại được đồng nghiệp tín nhiệm bầu làm Chủ tịch Hội nhà văn Hà Nội, một hội có khá đông Hội viên Hội nhà văn VN. Ngày nay, hiếm có một cán bộ đương chức nào dám xông xáo trên mặt trận mở miệng nói sự thật về nguy cơ mất nước như thế, một hành động tự đặt mình vào nguy cơ mất chức trong khi tình trạng phổ biến là người ta lo mất ghế hơn lo mất nước. Phải chăng, giữa thời buổi nhiễu loạn rối bời mọi giá trị, đã bắt đầu một quá trình các giá trị đích thực cứ tự thân trở về đúng chỗ, bất chấp mọi ác ý, mọi mưu toan đen tối? Phải chăng đang hiện rõ dần cái mà Thượng tướng Nguyễn Nam Khánh gọi là “thực tiễn tự tìm đường”, nhà văn Nguyên Ngọc gọi là “cuộc sống vẫn lừng lững đi tới”? Tôi thì nghĩ, cái “thực tiễn tự tìm đường” ấy, cái “cuộc sống vẫn lừng lững đi tới” ấy, luôn hoài thai và lớn dậy từ những cái tự xác quyết, tự lựa chọn ở từng con người. Và từng con người, với nhu cầu bức thiết bên trong, tự mở miệng nói sự thật. Kim Ngọc: “Nếu tôi sợ, các đồng chí sợ, tất cả chúng ta đều sợ, thì để dân chết đói à?”. Nguyên Ngọc: “Hội nghị chúng ta đã cơ bản nhất trí với “Đề dẫn”!”. Đoàn Duy Thành: “Chúng ta làm cách mạng để đem lại hạnh phúc cho dân, tại sao lại vô cớ tịch thu nhà của dân?”. Phạm Xuân Nguyên: “Tôi nguyện làm cái tai của chính quyền để nghe tiếng nói của dân, làm cái miệng của dân để nói tiếng nói của dân với chính quyền”. Từ diễn đàn Đại hội, qua giọng đọc đầy xúc cảm của Phạm Xuân Nguyên, vang lên tiếng thơ của Tô Thùy Yên thi sĩ - sĩ quan VNCH (viết hai tháng sau sự kiện Hoàng Sa 1974) về những người lính Việt Nam đồn trú ở Trường Sa khẳng định sự có mặt của Việt Nam tại đảo này: “Trường Sa! Trường Sa! Đảo chếnh choáng! / Thăm thẳm sầu vây trắng bốn bề / Lính thú mươi người lạ sóng nước / Đêm nằm còn tưởng đảo trôi đi”, và tiếng thơ của thi sĩ - chiến sĩ VNDCCH Trần Mạnh Hảo ca ngợi “Người anh hùng họ Ngụy” hy sinh ở Hoàng Sa năm ấy: “Người yêu nước không thể nào là ngụy / Người chết vì nước như anh không thể nào là ngụy / Nhưng anh: là Ngụy Văn Thà / Anh - hạm trưởng chiến hạm Nhật Tảo / Lao thẳng vào tàu giặc cướp / Tên anh còn mãi với Hoàng Sa / Biển vật mình thét đại bác / Giặc bủa vây chiến dịch biển người / Lửa dựng trời dìm tàu giặc / Máu anh cùng đồng đội ngời ngời / Ôm chặt tàu / Ôm chặt đảo / Anh hóa thành Tổ Quốc giữa trùng khơi”.

Và điều đặc biệt đáng ghi nhận: Ủy viên Bộ Chính trị, Bí thư Thành ủy Hà Nội Phạm Quang Nghị đã trân trọng lắng nghe. Anh có xúc động? Tôi tin rằng, một cách tự nhiên, người đã từng lăn lộn ở chiến trường giữa lòng dân như anh thì không thể không xúc động. Có người Việt Nam nào lại không xúc động trước tấm gương hy sinh lẫm liệt của người anh hùng Ngụy Văn Thà cùng đồng đội trong trận chiến chống giặc bành trướng Trung Quốc, bảo vệ Hoàng Sa thiêng liêng! Tôi tin rằng, giờ phút ấy tại đại hội, dòng máu thắm yêu nước vì dân không thể không dậy lên thôi thúc Phạm Quang Nghị tự bứt phá nốt trong anh những rào cản hoen rỉ của một thứ thiên kiến chính trị ý thức hệ giai cấp hẹp hòi, giục anh bước hẳn ra đứng giữa nhân dân trên một nền chính trị quảng đại vững bền: chính trị Tổ Quốc trên hết, quyền dân trên hết. Nhưng khi trở về ngồi họp Thành ủy, họp Bộ Chính trị, liệu anh có nhắc gì đến các chiến sĩ Việt Nam đã hy sinh trên biển đảo Hoàng Sa? Anh sẽ nói gì khi nhân dân nêu lên đề nghị này: Liên hiệp các Hội Văn học Nghệ thuật Hà Nội hãy sớm xúc tiến một cuộc gặp gỡ thơ nhạc Việt gồm các tác giả trong nước và hải ngoại về chủ đề biên cương, biển đảo, tổ chức theo phương thức tự cân bằng thu chi, không cần xin một đồng của nhà nước; những người tham dự tự túc ăn ở đi lại, người dư dả sẽ giúp người thiếu thốn (tôi chắc các ca sĩ có thu nhập cao sẽ sẵn sàng trợ giúp các nhạc sĩ thi sĩ nghèo), sẽ bán những tấm vé đặc biệt cho các nhà hằng tâm hằng sản nhiệt thành hưởng ứng cuộc ĐẠI ĐOÀN VIÊN THƠ NHẠC VIỆT BẢO VỆ BIÊN CƯƠNG BIỂN ĐẢO.

Bài tường thuật Đại hội Văn nghệ Thủ đô của nhà báo Nguyễn Việt Chiến lập tức loan nhanh trên internet lại không được đăng trên các báo chính thức kể cả các báo của Thủ đô, mặc dù Bí thư Thành ủy Phạm Quang Nghị có quan điểm về thông tin đúng đắn, thấu triệt tư tưởng Hồ Chí Minh về quyền mở miệng/ thông tin, như Hiến pháp đã qui định. Đây có thể là trường hợp lực bất tòng tâm, chắc rằng Bí thư Thành ủy Phạm Quang Nghị và anh chị em Tổng biên tập yêu nước ở nhiều đài báo cũng rất muốn loan tải nhưng sự thao túng có hệ thống của thế lực Z30 sợ sự thật trên lãnh vực cực kỳ sinh tử này còn rất ngoan cố.

Xin cùng nhau đọc lại những dòng sau đây của nhà thơ cộng sản Louis Aragon viết về khởi nghĩa Yên Bái năm 1930 – năm ra đời của Đảng CSVN:

Không thể bịt miệng một dân tộc

Không thể khuất phục một dân tộc

Bằng lưỡi kiếm đao phủ

Sau 81 năm, lại vẫn một sự ngoan cố mù quáng, mê muội của bạo quyền. Giữa thời đại internet mà lại duy trì quyền lực phi nghĩa bằng bưng bít và ngăn chặn thông tin thì khác gì lấy rổ múc nước.

Hãy cùng toàn thế giới nhìn gương mặt ngẩng cao hiên ngang của Cù Huy Hà Vũ, con trai của nhà thơ cách mạng Huy Cận – Bộ trưởng trong chính phủ Hồ Chí Minh, và nghe vang lên lời tuyên bố dõng dạc của anh giữa phiên tòa phát-xít đỏ: “Lịch sử sẽ phá án cho tôi !”.

Hãy cùng toàn thế giới nhìn giọt nước mắt của người sĩ quan an ninh Việt Nam yêu nước bất đắc dĩ phải cầm dùi cui đứng đối diện với những người Việt Nam yêu nước đang hô to: “Hoàng Sa Trường Sa của Việt Nam!”.

Đừng ngoan cố lao theo ảo vọng đem tiền thuế mồ hôi xương máu của dân mua chuộc một thiểu số sĩ quan an ninh là có thể sai khiến họ sử dụng nổi một lực lượng con em nhân dân lấy dùi cui còng sắt bịt miệng nhân dân.

Dù còn ngoan cố đến đâu, tự bưng tai bịt mắt đến đâu cũng không thể không thấy một trào lưu mở miệng ngày càng mạnh, ngày càng lớn, ngày càng rộng, với tinh thần tích cực chủ động ngày càng cao, với những phương thức ngày càng phong phú linh hoạt sáng tạo, trong xu thế tiến tới, tiến bước nào chắc bước nấy, ngay từ trong lòng tổ chức Đảng (kể cả cấp ủy) và các hội đoàn quần chúng hòa quyện mật thiết với sinh hoạt xã hội dân sự mà nhân dân đang tự hình thành và tự phát triển.

Đà Lạt 15.07.2011

B.M.Q.

Thứ Sáu, 22 tháng 7, 2011

Lo ngại công an lạm quyền đánh chết người

Tổ chức theo dõi nhân quyền Human Rights Watch (HRW) nói họ vẫn tiếp tục lo ngại về việc công an Việt Nam dùng bạo lực với người dân, nhiều trường hợp dẫn đến chết người.

Một báo cáo của tổ chức đặt trụ sở ở New York, tháng Chín năm ngoái, trích dẫn có 19 trường hợp cảnh sát thô bạo, trong đó có 15 vụ gây tử vong, dựa trên tin báo giới chính thống.

Gần một năm đã trôi qua, và HRW cáo buộc rằng hầu như vẫn không có thay đổi nào tại Việt Nam.

Nói với hãng tin AFP, phó giám đốc khu vực châu Á của HRW, ông Phil Robertson, nhận xét: “Cơ bản mà nói, cảnh sát tự tiện lạm dụng quyền hành ngược đãi người bị bắt giữ. Chuyện này vượt quá tầm kiểm soát rồi.”

Vụ gần đây gây bức bối cho dư luận trong nước là vụ ông Trịnh Xuân Tùng, phường Thịnh Liệt, Hà Nội, bị công an đánh gãy xương cổ rồi chết ít ngày sau đó.

Thuật lại những gì bố của mình kể lại trước khi chết, cô con gái 21 tuổi của ông Tùng, Trịnh Kim Tiến, nói bố mình bắt xe ôm đi ra một bến xe buýt ở Hà Nội vào một buổi chiều hồi đầu năm. Ông cởi mũ bảo hiếm sang một bên để gọi điện thoại trên đường đi.

Việc không mang mũ khi đi xe máy là phạm luật, vì thế một cảnh sát đã tạm giữ/tịch thu phương tiện và phạt người lái xe 150,000 đồng, trị giá khoảng ba ngày lương.

AFP trích lời con gái ông Tùng nói, lái xe đã không chịu trả tiền phạt dẫn đến việc tranh cãi và xô xát khiến ông Tùng cố gắng can ngăn.

Cô Trịnh Kim Tiến nói: “Sau đó cảnh sát tấn công bố tôi.”

Ông Tùng kiếm sống bằng nghề bán chim và “chưa bao giờ có vấn đề với bất kỳ ai”, bị đánh vào cổ và lưng trước khi bị đưa tới đồn công an.

Tại đây, con gái ông tìm thấy ông trong tình trạng bị còng cả chân và tay, kêu rằng không thể cử động được.

“Họ nói bố tôi đang cố giả vờ và không ai làm gì ông ấy cả. Sau đó, ông đã chết trong bệnh viện.”

"Có vẻ Bộ Công an quan tâm việc bảo vệ chính mình hơn là bảo vệ người dân Việt Nam"

Phil Robertson, HRW

HRW nói trường hợp này làm nổi bật sự báo động về việc lạm quyền trong lực lượng công an Việt Nam, nơi mà chỉ những vi phạm nhỏ có thể gây ra những kết cục bi thảm.

Tổ chức này kêu gọi chính quyền Việt Nam nhanh chóng mở các cuộc điều tra kỹ lưỡng và minh bạch về hàng loạt ca tử vong do công an sử dụng vũ lực chết người gây nên, và xử lý những cán bộ có trách nhiệm trong việc này.

Bảo vệ ai?

Bản báo cáo hàng năm của Bộ ngoại giao Hoa Kỳ về vấn đề nhân quyền ở Việt Nam dẫn ra 9 vụ tử vong trong năm 2010, tăng so với năm 2009 là không có trường hợp nào và năm 2008 là 1 vụ.

Báo cáo hồi tháng Tư nói: “Trong gần như tất cả các vụ, công an cáo buộc rằng nạn nhân đã tự sát.”

Trong một trong các vụ lạm quyền đáng chú ý nhất, ông Nguyễn Văn Khương chết trong lúc bị bắt giam sau khi ông này bị công an chặn lại vì vi phạm luật lệ giao thông ở tỉnh Bắc Giang vào năm ngoái.

Một nhà ngoại giao nước ngoài không cho biết tên nói với AFP rằng cả ngàn người đã biểu tình trước cái chết của người thanh niên trẻ và một nhân viên cảnh sát đã bị mức án 7 năm tù, một hình phạt chưa từng có cho việc công an lạm dụng quyền lực kiểu này.

Ông nói, mỗi một quốc gia, ở mức độ nhất định, đều phải đối mặt với các vấn đề trong ngành cảnh sát nhưng “cách giải quyết vấn đề đó như thế nào cũng định hình việc giải quyết các vấn đề nhân quyền nói chung. ”

Bộ Công an đã không trả lời đề nghị phỏng vấn của AFP. Tuy nhiên, chính quyền nói rằng luật pháp “nghiêm cấm việc sử dụng vũ lực bất hợp pháp khi thi hành công vụ.”

Ông Phil Robertson chỉ trích: “Có vẻ Bộ Công an quan tâm việc bảo vệ chính mình hơn là bảo vệ người dân Việt Nam.”

Thứ Năm, 14 tháng 7, 2011

Kiến nghị bảo vệ và phát triển đất nước của các nhân sỹ yêu nước

Tuần Việt Nam

Để vươn lên giành thời cơ, thoát hiểm họa, cả dân tộc ta, từ người lãnh đạo, cầm quyền đến người dân thường phải dấn thân cùng với cả nhân loại tiến bộ đấu tranh cho những giá trị đang là nền tảng cho một thế giới tiến bộ, đó là hòa bình, tự do dân chủ, quyền con người, bảo vệ môi trường, nhóm nhân sĩ kiến nghị.

Ngày 13/7/2011, 20 nhân sĩ, trí thức đã gửi bản kiến nghị đến Quốc hội và Bộ Chính trị về bảo vệ và phát triển đất nước trong tình hình hiện nay.
Bản kiến nghị gồm có 3 phần: phần 1 phân tích sâu về những sự kiện xảy ra gần đây trong quan hệ Việt - Trung, phần 2 nói về thực trạng còn nhiều bất cập trong nước và phần cuối cùng nêu 5 điểm kiến nghị với lãnh đạo Đảng và Quốc hội.

Trong danh sách ký tên đính kèm bản kiến nghị, có nhiều tên tuổi như ông Hồ Uy Liêm (Phó Chủ tịch thường trực Liên hiệp các hội khoa học Việt Nam (VUSTA)), Thiếu tướng Nguyễn Trọng Vĩnh ( nguyên Đại sứ VN tại Trung Quốc), nhà nghiên cứu Trần Việt Phương, Trần Đức Nguyên (nguyên thành viên Ban nghiên cứu của Thủ tướng), GS Hoàng Tụy, GS Nguyễn Huệ Chi, Nguyễn Trung, Phạm Chi Lan, Chu Hảo (nguyên Thứ trưởng Bộ Khoa học và công nghệ), nhà nghiên cứu Nguyễn Đình Đầu, Linh mục Huỳnh Công Minh, ông Lê Hiếu Đằng, Gs Tương Lai, Luật sư Trần Quốc Thuận, chuyên gia kinh tế Vũ Thành Tự Anh, Thiền sư Lê Mạnh Thát, nhà văn Nguyên Ngọc, Ts Nguyễn Xuân Diện, Nguyễn Hữu Châu Phan, Nguyễn Đình An.

"Độc lập, tự chủ và toàn vẹn lãnh thổ đang bị uy hiếp"

Trước tình hình Biển Đông nóng lên, nhóm nhân sĩ cho rằng, "Độc lập, tự chủ và toàn vẹn lãnh thổ của nước ta đang bị uy hiếp, xâm phạm nghiêm trọng".

"Từ khát vọng trở thành siêu cường, với vai trò là "công xưởng thế giới" và chủ nợ lớn nhất của thế giới, dưới chiêu bài "trỗi dậy hòa bình", Trung Quốc đang ra sức phát huy quyền lực dưới mọi hình thức, nhằm thâm nhập và lũng đoạn nhiều quốc gia trên khắp các châu lục...Thời gian gần đây, Trung Quốc đã có những bước leo thang nghiêm trọng trong việc thực hiện âm mưu độc chiếm Biển Đông với nhiều hành động bất chấp luật pháp quốc tế, ngang nhiên xâm phạm chủ quyền quốc gia và toàn vẹn lãnh thổ, lãnh hải của các quốc gia giáp Biển Đông. Trung Quốc tự ý vạch ra cái gọi là "đường chữ U 9 đoạn", thường được gọi là "đường lưỡi bò", chiếm hơn 80% diện tích Biển Đông, nhiều lần tuyên bố trước thế giới toàn bộ vùng "lưỡi bò" này thuộc chủ quyền không thể tranh cãi của Trung Quốc và đã liên tục tiến hành nhiều hoạt động bất hợp pháp trên Biển Đông để khẳng định yêu sách trái luật quốc tế này.

Hiện nay Trung Quốc đang ráo riết tăng cường lực lượng hải quân, chuẩn bị giàn khoan lớn, tiến hành nhiều hoạt động quân sự hoặc phi quân sự ngày càng sâu vào vùng biển các quốc gia trong vùng này, gắn liền với những hoạt động chia rẽ các nước ASEAN trong quan hệ với Trung Quốc.

Trên vùng Biển Đông thuộc lãnh hải và vùng đặc quyền kinh tế của Việt Nam, năm 1974 Trung Quốc đã tấn công chiếm nốt các đảo ở Hoàng Sa, năm 1988 đánh chiếm thêm 7 đảo và bãi đá thuộc quần đảo Trường Sa của ta; từ đó đến nay thường xuyên tiến hành các hoạt động uy hiếp và xâm phạm vùng biển thuộc chủ quyền của nước ta, như tự ý ra lệnh cấm đánh bắt cá trên Biển Đông, xua đuổi, bắt giữ, cướp tài sản của các tàu đánh cá trên vùng này, gây sức ép để ngăn chặn hoặc đòi hủy bỏ các hợp đồng mà các tập đoàn kinh doanh dầu khí của nước ngoài đang hợp tác với Việt Nam, liên tục cho các tàu hải giám đi tuần tra như đi trên biển riêng của nước mình. Gần đây nhất, tàu Trung Quốc cắt cáp quang và thực hiện nhiều hành động phá hoại khác đối với tàu Bình Minh 02 và tàu Viking II của ta đang hoạt động trong vùng thuộc đặc quyền kinh tế của Việt Nam; đó là những bước leo thang nghiêm trọng trong các chuỗi hoạt động uy hiếp, lấn chiếm vùng biển của nước ta.

Vị trí địa lý tự nhiên, vị thế địa chính trị và địa kinh tế trong bối cảnh quốc tế hiện nay khiến cho Việt Nam bị Trung Quốc coi là chướng ngại vật trên con đường tiến ra biển phía Nam để vươn lên thành siêu cường...", bản kiến nghị viết.

Từ phân tích trên, nhóm nhân sĩ cho rằng "xem xét cục diện quan hệ hai nước, phải nhìn nhận thẳng thắn rằng Trung Quốc đã đi được những bước quan trọng trong việc thực hiện ý đồ chiến lược của họ".

Kiến nghị dẫn chứng: Nhập siêu của ta từ Trung Quốc mấy năm qua tăng rất nhanh (năm 2010 gấp 2,8 lần năm 2006) và từ năm 2009 xấp xỉ bằng kim ngạch xuất siêu của nước ta với toàn thế giới. Hiện nay, nước ta phải nhập khẩu từ Trung Quốc khoảng 80-90% nguyên vật liệu cho công nghiệp gia công của ta, một khối lượng khá lớn xăng dầu, điện, nguyên liệu và thiết bị cho những ngành kinh tế khác; khoảng 1/5 kim ngạch nhập khẩu từ Trung Quốc là hàng tiêu dùng, chưa kể một khối lượng tương đương như thế vào nước ta theo đường nhập lậu. Đặc biệt nghiêm trọng là trong những năm gần đây, 90% các công trình kinh tế quan trọng như các nhà máy điện, luyện kim, hóa chất, khai thác bô-xít, khai thác ti-tan... được xây dựng theo kiểu chìa khóa trao tay (EPC) rơi vào tay các nhà thầu Trung Quốc với nhiều hệ quả khôn lường.

Trong khi đó Trung Quốc nhập khẩu từ nước ta chủ yếu dưới dạng vơ vét nguyên liệu, nông sản và khoáng sản, với nhiều hệ quả tàn phá môi trường. Ngoài ra còn nạn cho Trung Quốc thuê đất, thuê rừng ở vùng giáp biên giới, nạn tiền giả từ Trung Quốc tung vào. Sự yếu kém của nền kinh tế trong nước chính là mảnh đất màu mỡ cho sự xâm nhập, thậm chí có mặt chi phối, lũng đoạn về kinh tế của Trung Quốc. Chưa nói tới hệ quả khôn lường của việc Trung Quốc xây nhiều đập trên thượng nguồn hai con sông lớn chảy qua nước ta.

Cũng không thể xem thường sự xâm nhập của Trung Quốc vào các nước xung quanh ta. Nếu Trung Quốc thực hiện được mưu đồ độc chiếm Biển Đông, Việt Nam coi như bị bịt đường đi ra thế giới bên ngoài.

Trong khi đó tình hình đất nước lại có nhiều khó khăn và mối nguy lớn...

Theo các nhân sĩ trên, do "vị trí địa lý nước ta không thể chuyển dịch đi nơi khác, nên toàn bộ thực tế hiện nay buộc dân tộc ta phải tạo được bước ngoặt có ý nghĩa quyết định đối với vận mệnh của đất nước: Là nước láng giềng bên cạnh Trung Quốc đầy tham vọng đang trên đường trở thành siêu cường, Việt Nam phải bảo vệ vững chắc độc lập, chủ quyền quốc gia, trở thành một đối tác được Trung Quốc tôn trọng, tạo ra một mối quan hệ song phương thật sự vì hòa bình, hữu nghị, hợp tác và phát triển.

Mặt trận gìn giữ lãnh hải, vùng đặc quyền kinh tế, biển đảo, vùng trời của nước ta trong Biển Đông đang rất nóng do các bước leo thang lấn chiếm ngày càng nghiêm trọng của Trung Quốc... Tuy nhiên, mặt trận nguy hiểm nhất đối với nước ta mà Trung Quốc muốn dồn quyền lực và ảnh hưởng để thực hiện, đó là: thâm nhập, lũng đoạn mọi mặt đời sống kinh tế, chính trị, văn hóa của nước ta...

Sự xuất hiện một Trung Quốc đang cố trở thành siêu cường với nhiều mưu đồ và hành động trái luật pháp quốc tế, bất chấp đạo lý, gây nhiều tác động xáo trộn thế giới, tạo ra một cục diện mới đối với nước ta trong quan hệ quốc tế: Hầu hết mọi quốc gia trên thế giới, có lẽ ngoại trừ Trung Quốc, đều mong muốn có một Việt Nam độc lập tự chủ, giàu mạnh, phát triển, có khả năng góp phần xứng đáng vào gìn giữ hòa bình và ổn định trong khu vực, thúc đẩy những mối quan hệ hữu nghị, hợp tác vì sự bình yên và phồn vinh của tất các các nước hữu quan trong khu vực và trên thế giới"

Các nhân sĩ này cho rằng: "cục diện thế giới mới này là cơ hội lớn, mở ra cho đất nước ta khả năng chưa từng có trong công cuộc phát triển và bảo vệ Tổ quốc, qua đó giành được cho nước ta vị thế quốc tế xứng đáng trong thế giới văn minh ngày nay. Để vươn lên giành thời cơ, thoát hiểm họa, cả dân tộc ta, từ người lãnh đạo, cầm quyền đến người dân thường phải dấn thân cùng với cả nhân loại tiến bộ đấu tranh cho những giá trị đang là nền tảng cho một thế giới tiến bộ, đó là hòa bình, tự do dân chủ, quyền con người, bảo vệ môi trường

Kiến nghị 5 điểm

Từ những phân tích trên, các nhân sĩ "khẩn thiết kiến nghị với Quốc hội và Bộ Chính trị"

1. Công bố trước toàn thể nhân dân ta và nhân dân toàn thế giới thực trạng quan hệ Việt - Trung; nêu rõ những căn cứ phù hợp với luật pháp quốc tế, có sức thuyết phục về chủ quyền của Việt Nam đối với biển đảo ở vùng Biển Đông để làm sáng tỏ chính nghĩa của nước ta; khẳng định thiện chí trước sau như một của nước ta xây dựng, gìn giữ quan hệ hữu nghị, hợp tác láng giềng tốt với Trung Quốc, nhưng quyết tâm bảo vệ độc lập, chủ quyền và sự toàn vẹn lãnh thổ quốc gia của mình ... Chúng ta luôn phân biệt những mưu đồ và hành động phi đạo lý và trái luật pháp quốc tế của một bộ phận giới lãnh đạo Trung quốc, khác với tình cảm và thái độ thân thiện của đông đảo nhân dân Trung quốc đối với nhân dân Việt Nam. Chúng ta sẵn sàng là bạn và đối tác tin cậy của tất cả các nước, đặc biệt coi trọng quan hệ hữu nghị, hợp tác với các nước Đông Nam Á và các nước lớn, cùng với các nước có liên quan giải quyết hoà bình các vấn đề tranh chấp ở Biển Đông.

2. Trình bày rõ với toàn dân thực trạng đất nước hiện nay, thức tỉnh mọi người về những nguy cơ đang đe dọa vận mệnh của Tổ quốc, dấy lên sự đồng lòng và quyết tâm của toàn dân đem hết sức mạnh vật chất, tinh thần, trí tuệ để bảo vệ và phát triển đất nước. Cải cách sâu sắc, toàn diện về giáo dục và kinh tế ngày càng trở thành yêu cầu cấp thiết, là kế sâu rễ bền gốc để nâng cao dân trí, dân tâm, dân sinh làm cơ sở cho quá trình tự cường dân tộc và nền tảng cho sự nghiệp bảo vệ và xây dựng đất nước.

3. Tìm mọi cách thực hiện đầy đủ các quyền tự do, dân chủ của nhân dân đã được Hiến pháp quy định, nhằm giải phóng và phát huy ý chí và năng lực của nhân dân cho sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, tận dụng được cơ hội mới, đáp ứng được những đòi hỏi và thách thức mới của tình hình khu vực và thế giới hiện nay.

4. Kêu gọi toàn thể quốc dân đồng bào, mọi người Việt Nam ở trong nước và ở nước ngoài, không phân biệt chính kiến, tôn giáo, dân tộc, địa vị xã hội, hãy cùng nhau thực hiện hòa hợp, hòa giải, đoàn kết dân tộc với lòng yêu nước, tinh thần vị tha và khoan dung. Tất cả hãy cùng nhau khép lại quá khứ, đặt lợi ích quốc gia lên trên hết, để từ nay tất cả mọi người đều một lòng một dạ cùng nắm tay nhau đứng chung trên một trận tuyến vì sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, cùng nhau dốc lòng đem hết trí tuệ, nghị lực sáng tạo và nhiệt tình yêu nước xây dựng và bảo vệ Tổ quốc của chúng ta.

5. Lãnh đạo Đảng Cộng sản Việt Nam với tính cách là đảng cầm quyền duy nhất và cũng là người chịu trách nhiệm toàn diện về tình hình đất nước hiện nay, đặt lợi ích quốc gia lên trên hết, giương cao ngọn cờ dân tộc và dân chủ đẩy mạnh cuộc cải cách chính trị, giải phóng mọi tiềm năng của nhân dân cho sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, đẩy lùi mọi tệ nạn tham nhũng và tha hóa, đưa đất nước thoát ra khỏi tình trạng yếu kém và lệ thuộc hiện nay, chuyển sang thời kỳ phát triển bền vững, đưa dân tộc ta đồng hành với cả nhân loại tiến bộ vì hòa bình, tự do dân chủ, quyền con người, bảo vệ môi trường.

Chủ Nhật, 29 tháng 5, 2011

Tranh chấp Biển Đông: Liệu Trung Quốc có giải quyết bằng vũ lực?

30-05-2011 02:37

Ảnh minh họa: internet

Bài viết “Trung Quốc sử dụng vũ lực giải quyết vấn đề Biển Đông, nước nào là đối tượng đầu tiên?” trên mạng “Quân sự Thiên Thiên” của Trung Quốc phân tích về sự lựa chọn đối thủ trong trường hợp Trung Quốc quyết định dùng vũ lực đánh chiếm quần đảo Trường Sa.

Tại Biển Đông, để đạt được mục đích chung sống hoà bình, Chính phủ Trung Quốc đã ký với các quốc gia Đông Nam Á văn kiện “Tuyên bố về cách ứng xử của các bên ở Biển Đông” vào ngày 4/11/2002. “Tuyên bố” nhấn mạnh thông qua đàm phán, hiệp thương hữu nghị, lấy phương phức hoà bình giải quyết những tranh chấp liên quan tại Biển Đông, trước khi giải quyết tranh chấp, các bên cam kết giữ kiềm chế, không áp dụng các hành động khiến tranh chấp trở nên phức tạp và mở rộng. Văn kiện này có ý nghĩa tích cực quan trọng trong việc bảo vệ lợi ích chủ quyền của Trung Quốc, duy trì hoà bình, ổn định tại khu vực Biển Đông, tăng cường lòng tin giữa Trung Quốc và ASEAN.

Việt Nam có những biểu hiện nào khi xâm chiếm các đảo ở Biển Đông?

Việt Nam chiếm giữ 29 đảo trên quần đảo Trường Sa, là nước chiếm nhiều đảo nhất. Để chiếm giữ hữu hiệu các đảo này, Việt Nam đã áp dụng sách lược nói ít làm nhiều. Nhằm tránh xảy ra xung đột với Trung Quốc, Việt Nam xâm chiếm một cách lặng lẽ, sau khi tạo sự thật đã rồi mới tuyên bố có chủ quyền đối với các đảo này. Nhưng Việt Nam cũng ngại đụng chạm tới “giới hạn cuối cùng” của Trung Quốc, sợ một lần nữa vấp phải cuộc tấn công đến từ quân đội Trung Quốc, Việt Nam bắt đầu học bài “hỗ trợ từ nước ngoài” nhằm đạt được mục đích “lấy yếu thắng mạnh”.

Tháng 7/2008, Việt Nam ký hiệp định thăm dò dầu khí với một công ty nước ngoài. Theo “Báo Hoa Nam buổi sáng” (Hồng Công) khi đó đưa tin, Việt Nam và tập đoàn Exxon Mobil (Mỹ) đạt được một hiệp định về hợp tác thăm dò dầu khí, trong đó địa điểm thăm dò lại nằm trong khu vực lãnh hải tranh chấp Trung-Việt trên Biển Đông.

Người phát ngôn Bộ Ngoại giao Trung Quốc Lưu Kiến Siêu ngày 22/7/2008 tuyên bố, Chính phủ Trung Quốc cho rằng hành động này là hành vi xâm phạm chủ quyền Trung Quốc của Chính phủ Việt Nam, bày tỏ sự phản đối mạnh mẽ đồng thời đưa ra giao thiệp nghiêm khắc; hơn nữa, yêu cầu tập đoàn Exxon Mobil chấm dứt thực hiện hiệp định này. Tuy nhiên, Exxon Mobil lại cho rằng Việt Nam có chủ quyền đối với các khu vực thăm dò tương ứng. Người phát ngôn Bộ Ngoại giao Việt Nam Lê Dũng trong khi trả lời phóng viên “Báo Hoa Nam buổi sáng” của Hồng Công, đã nói: Hiệp định ký kết với Exxon Mobil thuộc chủ quyền quốc gia Việt Nam, nước khác không có quyền can thiệp.
Đây không phải là lần đầu tiên Việt Nam không thương lượng với Trung Quốc, tự thăm dò tài nguyên dầu khí trong khu vực biển tranh chấp, Việt Nam đã phân chia hàng trăm khu vực thăm dò, khai thác dầu khí trên vùng biển thuộc quần đảo Trường Sa để mời thầu trên toàn cầu. Trong những năm gần đây, các tập đoàn dầu khí của Mỹ, Nga, Pháp, Anh, Đức đều ký với Việt Nam một loạt hợp đồng thăm dò, khai thác dầu khí tại Biển Đông, Việt Nam đã nhuộm màu sắc quốc tế cho vấn đề tranh chấp Biển Đông. Tháng 4/2007, Việt Nam khởi động kế hoạch phát triển mỏ khí và đường ống dẫn khí thiên nhiên trong vùng biển tranh chấp Trường Sa với tập đoàn dầu mỏ BP của Anh, gặp sự phản đối kiên quyết của Chính phủ Trung Quốc, buộc BP phải thay đổi kế hoạch.

Vì gác tranh chấp, Trung Quốc vẫn chưa khai thác nổi một thùng dầu tại khu vực tranh chấp. Trong khi đó, tính đến nay Việt Nam đã khai thác gần 100 triệu tấn dầu thô, 1,5 tỷ m3 khí từ các giềng dầu ở khu vực Trường Sa, thu lợi hơn 25 tỷ USD. Sản lượng dầu mỏ khai thác hàng năm tại Biển Đông đạt từ 50 - 60 triệu tấn, trong đó sản lượng dầu mỏ tại khu vực tranh chấp Trung-Việt đạt khoảng 8 triệu tấn, chiếm tỷ trọng tương đối trong tổng sản lượng khai thác dầu mỏ hàng năm của Việt Nam là 30 triệu tấn. Để chiếm đóng vĩnh viễn các đảo, Việt Nam không ngại tổ chức cái gọi là diễn tập quân sự liên hợp với Mỹ nhằm vào Trung Quốc, với lại hai nước Trung-Việt vẫn đang trong quá trình đàm phán, thái độ bắt đầu thay đổi. Hành động này gặp phải sự phản đối của Trung Quốc, gây ra tình trạng căng thẳng hơn nữa trong quan hệ hai nước.

Trung Quốc nên chăng tấn công quân sự đối với Việt Nam ?

Nếu quân đội Trung Quốc giải quyết tranh chấp Biển Đông bằng vũ lực, phải tiến hành điều tra dân ý về vấn đề “đánh ai trước”, chắc chắn trên 80% dân chúng Trung Quốc đều hô to một tên - Việt Nam. Dựa vào thực lực quân sự của Trung Quốc hiện nay có thể khẳng định rằng, nếu hải quân hai nước Trung-Việt xảy ra chiến tranh tại quần đảo Hoàng Sa hoặc quần đảo Trường Sa, quân đội Việt Nam chỉ có thể chống đỡ, không có sức đánh trả, cuối cùng phải chịu thất bại, quân đội Trung Quốc khẳng định sẽ giành chiến thắng gọn gàng, triệt để. Với thực lực quốc gia và thực lực quân đội hiện nay của Việt Nam căn bản không chịu nổi một trận đánh của Trung Quốc. Mặc dù, tác giả bài viết này nhất trí với đánh giá của đa số người dân Trung Quốc, nhưng mặt khác tác giả cũng tán thành với một bộ phận có quan điểm nhìn xa trông rộng, không chủ trương tiến đánh Việt Nam ngay lập tức, vậy vì sao?

Tác giả bài viết cho rằng trong một thời gian dài kiên trì theo dõi các chương trình quân sự trên truyền hình và trên các phương tiện truyền thông khác, lắng nghe các chuyên gia quân sự đánh giá về tình hình Biển Đông và trong các cuốn sách chuyên đề cũng như các bài bình luận trên mạng của các chuyên gia quân sự, cũng đọc thấy nhiều bài viết và ý kiến về chủ trương không tiến đánh Việt Nam trước, tác giả có cùng một quan điểm với chủ trương này: Trung Quốc giải quyết vấn đề tranh chấp Biển Đông, mục tiêu tiến đánh đầu tiên không nên là Việt Nam, và không chủ trương lập tức khai chiến với Việt Nam, một khi Trung Quốc khai chiến với Việt Nam sẽ tạo ra nhiều hậu quả, trong đó có 4 điểm vô cùng bất lợi cho Trung Quốc:

Một là, hiện nay Việt Nam có thể nói đang trong hoàn cảnh hết sức khó khăn, từ sau Chiến tranh Lạnh, Việt Nam bắt đầu mất dần ký ức chiến tranh, mặc dù trong những năm gần đây họ giơ cành ô liu với người Mỹ, nhưng lịch sử thảm khốc của cuộc Chiến tranh Việt Nam và hình thái ý thức của Đảng Cộng sản Việt Nam, khiến Mỹ băn khoăn lo lắng, huống hồ người Mỹ cũng biết rất rõ, người Việt Nam chẳng qua là muốn hàng không mẫu hạm của Mỹ đến để kiềm chế và hù dọa Trung Quốc mà thôi. Nếu Trung Quốc đánh Việt Nam, người Việt Nam sẽ kêu gọi sự bảo vệ của Mỹ, Nhật Bản, cung cấp căn cứ quân sự cho Mỹ, Nhật, như vậy tuyệt đối không phải là một tin tốt cho Trung Quốc, Trung Quốc sẽ mất đi “vùng đệm hòa hoãn” phía Nam trong sự đối kháng với Mỹ. Cục diện này là ước nguyện của người Mỹ mấy chục năm qua, cũng là mục đích mà người Mỹ phải sử dụng biện pháp chiến tranh trong mười mấy năm mà chưa đạt được, và một khi xuất hiện cục diện này, dưới sự “giúp sức” của Trung Quốc, chắc chắn người Mỹ sẽ thực hiện được mục tiêu này. Nếu quân đội Mỹ có thể quay trở lại cảng Cam Ranh, có thể khẳng định cuộc sống của Trung Quốc sẽ không còn tốt đẹp.

Hai là, chiếm giữ các đảo của Trung Quốc tại Trường Sa còn có các nước Philíppin, Malaixia, Inđônêxia, Brunây, nếu các nước này nhận được sự ủng hộ và xúi giục từ Mỹ, sẽ liên hợp với Việt Nam tiến hành chiến tranh chống lại Trung Quốc, cục diện này rất có khả năng xảy ra, vậy Trung Quốc phải làm sao? Toàn bộ khu vực Biển Đông sẽ trở thành chiến trường, hoàn toàn có thể khiến toàn bộ các nước Đông Nam Á thoái thác triệt để cho Mỹ, thảm họa chiến tranh sẽ tiếp nối, đồng minh của Trung Quốc tại khu vực này sẽ ngày càng ít, thậm chí bị cô lập hoàn toàn, hình tượng nước lớn có trách nhiệm của khu vực được Trung Quốc xây dựng từ năm 1999 đến nay bị sụp đổ hoàn toàn, nếu nhân cơ hội này Đài Loan đi theo hướng độc lập, Nhật Bản chiếm đóng tại đảo Điếu Ngư, Nam Tây Tạng lại có vấn đề, Trung Quốc thật sự xuất hiện cục diện “bốn bề gặp họa”, phiền phức không để đâu cho hết.

Ba là, các đảo Việt Nam chiếm giữ tại Biển Đông phân bố rải rác và trong phạm vi rộng, đại bộ phận đều nằm ở cực Nam của Biển Đông, đánh chiếm các đảo trên với Việt Nam như thế nào, mặc dù nói một tấc lãnh thổ cũng không thể nhường, nhưng đối với Trung Quốc, một số đảo thuộc khu vực Trường Sa thực sự quá xa, xa đến mức nếu dựa vào biện pháp kỹ thuật hiện nay, cho dù khai thác, phát triển thì lợi ích thu được so với cái giá phải bỏ ra để bảo vệ cũng không thể so sánh được, ngược lại, những đảo này rất gần với phía Nam Việt Nam, huống hồ sau khi đánh chiếm những đảo này, hải quân Trung Quốc không thể dùng cả một hạm đội tác chiến bố trí lâu dài tại cực Nam của Biển Đông, vì vậy đánh chiếm các đảo này sẽ rất khó phòng thủ, rất có thể xuất hiện cục diện mất rồi lại được, được rồi lại mất, nếu xuất hiện cục diện này, hao người tốn của là chuyện không phải bàn, Việt Nam sẽ làm tiêu hao một lượng lớn sức chiến đấu của hải quân Trung Quốc, trong khi đó hải quân Mỹ cũng sẽ nhân cơ hội này gây ra những phiền phức cho hải quân Trung Quốc.

Bốn là, Trung Quốc tiến đánh Việt Nam trước, chắc chắn sẽ gặp sự phản đối kiên quyết từ nước láng giềng phương Bắc - đó là Nga, vì sau khi Liên Xô tan rã, Nga kế thừa và phát triển quan hệ đồng minh hữu nghị với Việt Nam, hiện nay Nga là nguồn cung cấp trang bị vũ khí quân sự và hoả lực lớn nhất của Việt Nam, ngược lại, người Nga nhập khoảng 30% hàng nông sản, thực phẩm từ Việt Nam, một khi Trung-Việt xảy ra chiến tranh, chắc chắn sẽ ảnh hưởng tới quan hệ đối tác mật thiết Trung-Nga mà hai nước mới thiết lập, tình hình quốc tế hiện nay đòi hỏi hai nước Trung-Nga phải đoàn kết mật thiết, cùng nhau đối phó với nguy cơ quân sự ngày càng nghiêm trọng, nếu Nga cũng gia nhập vào tập toàn tuyên truyền về thuyết “mối đe dọa từ Trung Quốc”, như vậy Trung Quốc sẽ ở vào địa vị quốc tế hết sức khó xử, Nga cũng sẽ đối xử thù địch với Trung Quốc, Trung Quốc thật sự bị Mỹ bao vây toàn diện. Trong khi đó, kinh tế của Trung Quốc cũng bị ảnh hưởng nghiêm trọng, đây là bất lợi lớn nhất.

Căn cứ vào 4 nguyên nhân trên, Trung Quốc tiến đánh Việt Nam đầu tiên để giải quyết vấn đề Biển Đông là sự lựa chọn không sáng suốt, nếu tiến đánh Việt Nam đầu tiên, các nước tranh chấp khác dưới sự xúi giục và ủng hộ của Mỹ, khẳng định sẽ không khoanh tay đứng nhìn, nhưng nếu Trung Quốc tiến đánh Philíppin đầu tiên hoặc nước khác, tác giả có đầy đủ lý do chứng minh rằng, cho dù Mỹ gây chia rẽ như thế nào, Việt Nam đều sẽ không dám tham gia, trong vấn đề Biển Đông, hai nước Trung-Việt dường như có một dạng hiểu ngầm là: “anh không đánh tôi, tôi không tham gia” và “tôi không đánh anh, anh không tham gia”, năm ngoái Trung Quốc và Philíppin xảy ra xung đột xung quanh vấn đề đảo Hoàng Nham, biểu hiện giữa Trung Quốc và Việt Nam đã cho thấy tồn tại sự hiểu ngầm đó.

Mặc dù, chiến tranh là tàn khốc, là không nhân đạo, nhưng có lúc cũng là điều phải làm và cũng là biện pháp hiệu quả nhất. Những vấn đề đang đặt ra cho Chính phủ và quân đội Trung Quốc là: Đánh ai trước? Khi nào đánh? Sau khi thu hồi các đảo bị chiếm đóng tại Biển Đông nên củng cố và bảo vệ như thế nào?

Căn cứ vào tình hình Biển Đông hiện nay, tác giả đưa ra cách nhìn sau:

1. Nước nào quan hệ tốt nhất với Mỹ?

2. Nước nào hô hào chống Trung Quốc mạnh nhất?

3. Nước nào quy hoạch các đảo chiếm đóng của Trung Quốc vào bản đồ nước mình đầu tiên?

4. Nước nào chiếm các đảo của Trung Quốc có cự ly gần với Trung Quốc đại lục nhất?

Nếu quốc gia nào đồng thời phù hợp với 4 điều kiện kể trên, thì đó chính là đối tượng mà quân đội Trung Quốc cần tiến đánh đầu tiên, căn cứ vào tình hình Biển Đông hiện nay thì quốc gia đó chính là Philíppin.

Philíppin chiếm giữ 10 đảo. Philíppin là nước có lực lượng hải quân yếu nhất trong số các nước tranh chấp tại Biển Đông. Để chiếm giữ hữu hiệu các đảo, Philíppin đã áp dụng một số biện pháp cầu cứu sự ủng hộ và bảo vệ từ bên ngoài. Tháng 4/1992, Philíppin khởi xướng “Hiệp ước thân thiện và hợp tác ASEAN”, Hiệp ước này yêu cầu giải quyết hoà bình tranh chấp Biển Đông. Hai năm sau, Philíppin ký hợp đồng với một công ty của Mỹ, tiến hành cái gọi là hoạt động thăm dò và nghiên cứu địa chất ở khu vực tranh chấp phía Tây quần đảo Palawan , hành vi của Philíppin dẫn đến sự phẫn nộ của Trung Quốc.

Được coi là một phản ứng, Trung Quốc đã dựng cột mốc trên đảo đá ngầm Mỹ Tế (Việt Nam gọi là Vành Khăn, Philíppin gọi là Panganiban) thuộc quần đảo Trường Sa, xây dựng nhà dân và nhà tránh bão dân dụng cho ngư dân. Philíppin cho rằng đảo Mỹ Tế thuộc Philíppin, vì vậy, đã tiến hành phá hoại có chủ ý, đồng thời bắt giữ các ngư dân Trung Quốc đang hoạt động tại vùng nước cách phía Tây quần đảo Palawan 80 km. Đây là tranh chấp đảo Mỹ Tế giữa Trung Quốc và Philíppin. Sau này, do cảnh cáo nghiêm khắc từ phía Chính phủ Trung Quốc, Philíppin đã phải thả toàn bộ ngư dân Trung Quốc. Được biết, Philíppin làm như vậy tất cả đều do cuộc bầu cử trong nước sắp diễn ra, khi người phát ngôn Bộ Ngoại giao Philíppin đề cập đến vấn đề này, đã viện dẫn Hiệp ước phòng thủ chung mà Philíppin ký với Mỹ, trong Hiệp nước này nói, một khi Philíppin bị tấn công, Philíppin sẽ tiến hành thảo luận song phương với Mỹ, có lẽ do nguyên nhân của Hiệp ước này mà Ngoại trưởng Mỹ đã nhắc nhở Ngoại trưởng Trung Quốc: Mỹ có nghĩa vụ với Philíppin theo Hiệp ước.

Phải chăng Mỹ nhúng tay vào vấn đề tranh chấp Biển Đông?

Mỹ nhúng tay vào tranh chấp Biển Đông là điều hoàn toàn khẳng định, đây là một trong những bước đi chiến lược “quay trở lại châu Á, xưng bá châu Á” của Mỹ, mục đích là kiềm chế Trung Quốc tăng tốc trỗi dậy trên phạm vi toàn cầu, để củng cố địa vị bá chủ của mình trên phạm vi toàn cầu, chính vì vậy việc tích cực nhúng tay vào vấn đề tranh chấp Biển Đông sẽ không có gì làm lạ, Trung Quốc cũng đã quen với bất cứ phiền phức nào đều có “bạn đồng hành” là Mỹ, cho dù là nhận được sự giúp đỡ của Mỹ, chẳng nhẽ người Mỹ triển khai hàng triệu quân và mười mấy chiếc hàng không mẫu hạm đến Biển Đông để giúp một nước nhỏ không quan trọng hay sao? Mỹ thực hiện chiến lược kiềm chế Trung Quốc, hoàn toàn không có nghĩa là chiến lược chiến tranh, thủ đoạn là “trò chơi bên miệng hố chiến tranh” chứ không phải “trò chơi chiến tranh”, không vì một hòn đảo nhỏ mà Mỹ khai chiến với Trung Quốc. Người Mỹ nhiều nhất cũng chỉ đem hàng không mẫu hạm đến uy hiếp Trung Quốc, viện trợ một chút vũ khí và ủng hộ về mặt nhân đạo. Người Mỹ liên hợp triển khai đối kháng quân sự nhằm vào Trung Quốc, là lấy đá đập vào chân mình.

Ngay cả Mỹ thật sự xuất quân can dự, liệu Trung Quốc có từ bỏ vũ lực thu hồi chủ quyền các đảo tại Biển Đông? Đáp án là phủ định. Trung Quốc không phải là Ápganixtan, Irắc hay Libi, Trung Quốc ngày nay không yếu hèn như vậy, Trung Quốc tuyệt đối không tỏ ra yếu kém trước bất cứ quốc gia nào tại Biển Đông, có sự can thiệp của người Mỹ càng khiến Trung Quốc kiên định hơn vào quyết tâm và ý chí chiến đấu nhằm thâu tóm Biển Đông. Nếu “Trung-Mỹ tất phải có một cuộc chiến”, trước khi Chính phủ và quân đội Trung Quốc sử dụng vũ lực thu hồi các đảo tại Biển Đông, nên làm tốt mọi sự chuẩn bị để có thể quyết chiến với Mỹ tại Biển Đông.

Theo báo mạng Quân sự Thiên Thiên, Trung Quốc, ngày 15 tháng 5


Đài RFA ngày 19/5 có bài phỏng vấn nhà nghiên cứu Trung Quốc Trương Danh Duy, nguyên Tổng lãnh sự Việt Nam tại Quảng Châu để tìm câu trả lời về vấn đề này.

Trung Quốc ngày càng lộ rõ hơn tính cách nước lớn và không ngại đưa ra những quyết định vi phạm nghiêm trọng công ước quốc tế về luật biển đối với các nước láng giềng nhỏ hơn như Philippin hay Việt Nam.

Trong hoàn cảnh bị chèn ép liên tục như vậy, liệu Việt Nam có thể ứng phó ra sao và đến bao giờ thì Trung Quốc sẽ tiến thêm bước nữa để thôn tính quần đảo Trường Sa?

Trắng trợn và ngang ngược

+ Thưa ông, vừa qua Trung Quốc đã tiếp tục đưa ra quyết định cấm đánh bắt cá đối với khu vực thuộc chủ quyền của Việt Nam, điều này cho thấy họ vẫn tiếp tục giữ thái độ nước lớn là bất chấp những quy định của quốc tế về luật biển. Là người lâu năm nghiên cứu và làm việc với Trung Quốc, ông nhận xét việc này thế nào/

- Nói về Trung Quốc trong vấn đề này thì nói dài hay ngắn bao nhiêu cũng được. Ý đồ không thay đổi của Trung Quốc là gì? Là mặc dù họ không có cơ sở pháp lý, cơ sở thực tế nào ở Biển Đông, nhưng từ ngày thành lập nước CHND Trung Hoa, đến năm 1988, họ đã lấy toàn bộ Hoàng Sa của Việt Nam. Họ chiếm 7 đảo và bãi ở Trường Sa của Việt Nam, và đến bây giờ họ còn đòi hỏi tất cả, tất cả Trường Sa là thuộc về họ! Đó là một điều vô lý.

Vừa rồi Cục Hải dương Trung Quốc đã thông qua một quy định cho phép đấu thầu 176 hòn đảo không có người ở của Trung Quốc để khai thác sử dụng, trong đó chắc chắn sẽ có những đảo mà họ xâm phạm chủ quyền đối với Nhật Bản, Hàn Quốc, Bắc Triều Tiên và Việt Nam cũng như với các nước còn lại của ASEAN như Philippin, Inđônêxia.

Cho nên, theo tôi, mục tiêu của họ đã quá rõ rồi. Đó là một sự ngang ngược, trắng trợn và vô liêm sỉ…

+ Trong nhiều lần phỏng vấn trước ông luôn luôn có thái độ kiềm chế và đây là lần đầu tiên chúng tôi nhận thấy sự bức xúc của ông. Xin ông cho biết đây có phải là một tín hiệu ông muốn gửi tới các cấp thẩm quyền của Việt Nam đang nhận trọng trách trong vấn đề Trung Quốc hay không?

Chuyện về Trung Quốc thì tôi nói nhiều rồi, kể cả khi tôi còn tại chức cho đến khi về hưu. Đến bây giờ trong các cuộc hội thảo, trong những lần mà tôi không bao giờ chống lại nhân dân Trung Quốc, mà chúng tôi chống sự bành trướng bá quyền, chống cái đại ác nước lớn của Trung Quốc mà thôi. Điều đó là phải khẳng định. Việc Trung Quốc không có chủ quyền mà họ lại cấm đánh cá, cho tàu đi vào vùng biển không phải của họ để tuần tra, đâm tàu Việt Nam là những điều ngang ngược, bá quyền, không ai có thể chịu được.

Mục đích của Trung Quốc

+ Là một nhà ngoại giao kỳ cựu ông biết rất rõ là trong tình hình thế giới hiện nay không cho phép một nước có hành động xâm lược nước khác. Tuy nhiên, ông có nghĩ rằng với tính cách nước lớn thương phô trương thì Trung Quốc có thể phớt lờ dư luận quốc tế để thôn tính Trường Sa như đã từng chiếm đoạt Hoàng Sa trước đây hay không?

- Trong vấn đề Biển Đông hiện nay, đặc biệt vấn đề Trường Sa thì có khá nhiều khả năng. Một là, khả năng tình hình sẽ tốt hơn trước, tốt hơn thoả thậun, tìm được tiếng nói chung hoà hợp với lợi ích cả hai bên, không xảy ra chiến tranh, hai nước vẫn hoà thuận với nhau. Theo tôi nghĩ khả năng đó không phải là không có.

Hai là, Trung Quốc sẽ bắt giữ tàu thuyền đánh cá như là tình hình hiện nay, thỉnh thoảng Trung Quốc phản đối đôi chút, Việt Nam phản đối đôi chút. Thứ ba là tình hình xấu đi nữa, và điều xấu nhất là Trung Quốc mang quân ra đánh. Họ cho lính giả làm dân ra chiếm những đảo không có người ở thuộc chủ quyền của Việt Nam, của Philippin hoặc của Inđônêxia làm cho căng thẳng gia tăng. Và xấu nhất là nổ ra chiến tranh, hoặc là Trung Quốc với Việt Nam hoặc là Trung Quốc với Philippin. Như vừa qua chúng ta đều biết chuyện Trung Quốc mang tàu đến hải phận Philippin khiến nước này cho máy bay đánh đuổi.

+ Trong tình hình xấu nhất như ông vừa nói, liệu Chính phủ Việt Nam đã sẵn sàng cho một cuộc chiến không mong muốn này hay chưa?

- Theo tôi, sống bên cạnh anh hàng xóm này, bất cứ người lãnh đạo Việt Nam nào cũng phải tính đến khả năng xấu nhất. Tôi chắc rằng và tôi biết phía Việt Nam có chuẩn bị chứ không phải là khoanh tay ngồi đợi sự bố thí của phía Trung Quốc.

+ Lịch sử Việt Nam luôn cho thấy trong hàng ngàn năm qua mỗi lần giặc phương Bắc tràn xuống thì bất cứ triều đại nào cũng đều phải dựa vào lòng dân, liệu bài học kinh điển này có được chính phủ áp dụng hay không?

- Phải nói thật là có một thời gian dài vì nghĩ tới lợi ích lớn nên chúng ta nhân nhượng, không nói rõ về những bất đồng, nhất là trong cuộc chiến tranh xâm lược nước ta của Trung Quốc năm 1979.

Thế nhưng, gần đây nếu ông theo dõi báo chí, dư luận Việt Nam thì sẽ nhận thấy là bắt đầu có những điểm mới. Báo Thanh Niên của Việt Nam đã đăng chuyện về liệt sĩ Lê Đình Chinh hy sinh ở chiến tranh biên giới năm 1979. Báo Thanh Niên Việt Nam cũng đã nói đến chuyện những liệt sĩ hy sinh hồi tháng 3 năm 1988 khi bị giải quân Trung Quốc tấn công.

Còn trong dân, tôi xin nói thật là người ta đều biết đối tượng, đối thủ của chúng ta là Trung Quốc. Trung Quốc là kẻ thù nguy hiểm nhất của chúng ta. Nhưng Trung Quốc cũng không hề giấu giếm, họ nói Việt Nam là đối tượng nguy hiểm nhất của Trung Quốc ở Biển Đông. Tôi cũng nói thật rằng mọi người Việt Nam đều biết rằng Trung Quốc chưa lấy được Trường Sa của Việt Nam thì còn chưa hết gây rắc rối.

+ Xin được hỏi câu cuối. Theo ông vì sao cho tới giờ Trung Quốc vẫn chưa dùng vũ lực đối với Việt Nam như đã từng dùng trong cuộc chiến 1979 trước đây?

- Không phải là chuyện dễ! Tôi xin nói thật, họ đã nói “đánh Trường Sa thì dễ, giữ được Trường Sa thì không dễ”. Tôi không phải là nhà quân sự nhưng bằng kiến thức của mình, tôi cũng biết rằng: “Chúng tôi không muốn gây sự với các anh, nhưng nếu các anh xâm phạm lãnh thổ thiêng liêng của chúng tôi thì các anh sẽ biết hậu quả như thế nào”.

Chắc chắn nếu bây giờ có chuyện xảy ra, không phải như năm 1979 nữa, không phải họ muốn làm mưa làm gió gì thì làm. Bây giờ Việt Nam đã khác. Năm 1979 Việt Nam đang bị cô lập còn Việt Nam bây giờ với chủ trương đối ngoại đúng đắn với cả thế giới, nhân dân thế giới kết nghĩa với Việt Nam. Nhân dân khu vực đứng về phía Việt Nam, và ngay cả nhân dân Trung Quốc, những người có lương tri, cũng thấy rằng không thể lại một lần nữa mang quân sang đánh Việt Nam như năm 1979.

Cho nên tình hình bây giờ khác trước rồi, khác với năm 1979 rất nhiều, và nhà cầm quyền Trung Quốc thấy rất rõ. Năm 1979, Việt Nam đã phải chiến đấu rất gian khổ? Bây giờ thì khác, chúng ta có bạn bề khắp nơi, quan hệ ngoại giao rất tốt đẹp với các nước lớn trên thế giới, với các nước trong khu vực, và với nhân dân Trung Quốc cũng như vậy. Bằng những hành động chính nghĩa, sự chịu đựng, tuyên truyền sẽ làm cho nhân dân Trung Quốc dần dần thấy là nhân dân Việt Nam có lý./.


Nguồn Basam, Nghiencuubiendong, RFA

Thứ Tư, 18 tháng 5, 2011

Tàn nhẫn -

Theo blog Ngọc

Tôi không có dịp đi nước ngoài nhiều, nên không biết ở ngoài người ta có hệ thống chăm sóc sức khỏe cho lãnh đạo hay không. Nhưng nhìn từ góc độ y đức tôi thấy chuyện dành ra một tài khoản và ban bệ chỉ để lo chuyện sức khỏe cho lãnh đạo thật là vô minh.

Thời còn làm trong bệnh viện nhà nước tôi chứng kiến nhiều cảnh đau lòng. Thường dân không có thuốc phải nằm chờ chết. Cán bộ cao cấp thì được lệnh mua thuốc ngoại, giá bao nhiêu cũng được duyệt. Thường dân nằm la liệt hành lang bệnh viện. Cán bộ nằm phòng có máy lạnh. Đó là thời 79-85. Nhưng thời nay cũng chẳng có gì khác. Cũng như giữa giàu và nghèo, khoảng cách giữa dân và quan càng ngày càng lớn. Quan thì giàu, dân thì nghèo.

Người ta nói một chuyện làm một chuyện khác. Nói xóa bỏ giai cấp, nhưng lại tạo nên một giai cấp ăn trên ngồi trước. Nói là đầy tờ nhân dân, nhưng trong thực tế là cha mẹ nhân dân. Ngôn ngữ dưới thời XHCNVN không còn ý nghĩa thật của nó nữa.

Sài Gòn có bệnh viện Thống Nhất dành cho lãnh đạo. Nhưng ít ai biết rằng bất cứ tỉnh nào cũng có một khu trong bệnh viện chỉ dành cho lãnh đạo. Phải bao nhiêu tuổi đảng mới được nằm ở các khu đặc trị đó. Tôi không có vinh dự điều trị cho các vị lãnh đạo vì tôi đoán lý lịch của mình không “sạch” mấy (do học y thời trước 75). Nhưng tôi được biết đồng nghiệp điều trị cho các lãnh đạo than trời lắm. Họ nói các vị lãnh đạo coi bác sĩ chẳng ra gì, đối xử với bác sĩ như là cấp trên và cấp dưới. Chán lắm. Bực tức lắm. Nhưng nhiệm vụ và y đức thì phải làm, chứ chẳng ai ham làm trong các khu đặc trị cho lãnh đạo cả.

Thật ra, mấy khu đặc trị là những khu nguy hiểm trong bệnh viện. Dù trang bị tốt hơn các khu khác, nhưng tử vong vẫn cao trong mấy khu đặc trị. Lý do đơn giản là bác sĩ chẳng dám quyết định gì cả. Cái gì cũng hỏi cấp trên. Có lẽ nhiều người không biết, nhưng có ca phải hỏi ý kiến … cấp ủy. Không có hệ thống y khoa nước nào quái đản như nước ta, bác sĩ xin ý kiến cấp ủy để điều trị! Có cụ bị để nằm cho đến chết vì chẳng ai dám quyết định, ai cũng sợ trách nhiệm. Có lần tôi tham dự hội chẩn về một trường hợp và bị ám ảnh lâu dài về hệ thống y tế dưới thời XHCN. Ông cụ không phải là cán bộ cao cấp, nhưng là bố của một ông thứ trưởng, nên cũng được nằm khu dành cho lãnh đạo. Ông cụ bị cao huyết áp và tiểu đường, bệnh rất hay gặp. Người ta hội chẩn mãi, xin ý kiến mãi, thậm chí ông thứ trưởng bay vào Sài Gòn thăm bố. Chẳng ai dám làm gì! Ba tuần sau, ông cụ qua đời. Chính cái hệ thống phân biệt đối xử và giai cấp làm cho ông cụ chết.

Chính cái hệ thống đó đang giết người dân nữa. Đọc blog thấy có tin Thanh Hóa “đầu tư xây dựng trụ sở Ban Bảo vệ – Chăm sóc sức khỏe cán bộ tỉnh Thanh Hóa“. Có cái gì ghê tởm ở đây. Chúng ta biết rằng người dân Thanh Hóa đang đói. Gần 250.000 người đói. Vậy mà người ta thản nhiên xây tập trung tiền bạc vào việc chăm sóc sức khỏe cán bộ!

Thử nhìn qua hai hình dưới đây để thấy bản chất của chế độ:







Đâu chỉ Thanh Hóa mới lo chăm sóc sức khỏe cán bộ. Trung ương cũng thế. Chẳng những huy động, mà còn huy động toàn hệ thống. Thử đọc bản tin Huy động sức mạnh của toàn hệ thống trong công tác bảo vệ, chăm sóc sức khỏe cán bộ thì biết người ta muốn gì. Đọc bản tin đó gần chục lần tôi vẫn không giải thích được tại sao người ta lại vô cảm, ngạo mạn, ngang nhiên, trắng trợn như thế.

Trong khi bệnh viện các cấp quá tải, trong khi hai ba bệnh nhân phải nằm chung giường, trong khi bệnh nhân nằm ghế bố la liệt ngoài hành lang, mà có một giai cấp ngang nhiên huy động toàn hệ thống để chăm sóc cho một nhúm cán bộ đảng viên. Họ xem bệnh viện, bác sĩ, y tá, chuyên gia như là tài sản của riêng họ, muốn làm gì thì làm. Không hiểu trong lịch sử nước nhà, đã có một giai cấp thống trị nào chẳng những bất tài mà còn tàn nhẫn với người dân như hiện nay. Tìm hoài trong cổ sử mà chưa thấy. Tạm thời có thể nói đảng viên là giai cấp tàn nhẫn nhất với người dân trong lịch sử Việt Nam?

________________________
Chuyện khám bệnh cho lãnh đạo cao cấp Việt Nam

(24h) - Trong ngành Y tế Việt Nam có một đội ngũ các y, bác sỹ, dược sỹ rất đặc biệt vì họ đảm nhận một nhiệm vụ đặc biệt là bảo vệ, chăm sóc, theo dõi sức khỏe, điều trị bệnh cho các lãnh đạo cao cấp của Đảng và Nhà nước.

Đây đều là các chuyên gia y học đầu ngành trong cả nước. Công việc quan trọng, đặc biệt này đã để lại trong họ nhiều kỷ niệm, nhiều câu chuyện đáng nhớ mà ngay cả người trong ngành cũng ít khi được biết.
Áp lực “nói chung là lớn”

Là GS đầu ngành tim mạch trong cả nước, chính thức nhận nhiệm vụ Chủ tịch Hội đồng chuyên môn phía Bắc Ban Bảo vệ và Chăm sóc Sức khoẻ Cán bộ Trung ương (Ban BVVCSSKCBTƯ) và nhận nhiệm vụ phó Chủ tịch Hội đồng chuyên môn toàn quốc Ban BVCSSKCBTƯ từ năm 2003, GS, Anh hùng lao động Phạm Gia Khải đã khám bệnh, điều trị, theo dõi và chăm sóc sức khỏe cho rất nhiều người là lãnh đạo cao cấp của Đảng và Nhà nước Việt Nam.

Khám chữa bệnh, theo dõi và chăm sóc sức khỏe cho những nhân vật đặc biệt nhưng GS Khải cho biết những bệnh nhân mà ông được tham gia theo dõi, hoặc hội chẩn, nói chung rất hợp tác về chuyên môn.

“Cũng có một số trường hợp, chúng tôi phải giải thích cặn kẽ lý do phải áp dụng một số biện pháp chữa bệnh mà sự hợp tác, phản hồi về kết quả là rất cần thiết, vì sự hiểu biết về bệnh tật không phải là giống nhau, có người biết nhiều, nhưng cũng có người biết ít”, GS Khải nói.

Khi được hỏi liệu có gặp “áp lực” gì khi thực hiện một nhiệm vụ đặc biệt như thế này không, GS Khải cũng thú thực: “Tinh thần trách nhiệm bắt người thầy thuốc phải làm tốt nhiệm vụ của mình với tất cả mọi trường hợp bệnh nhân mà mình phụ trách. Đó là danh dự, là lương tâm và cũng là vị thế của mình nữa.

Nhưng cũng phải nói thật là khi khám chữa bệnh cho những người như thế thì áp lực tinh thần, áp lực về thời gian đối với chúng tôi nói chung là lớn. Còn những “áp lực” khác, tôi chưa thấy, hay ít nhất là đối với cá nhân tôi, cho tới thời điểm này”.

GS Khải cho biết, theo quy định của Ban BVVCSSKCBTƯ, các cán bộ lãnh đạo cao cấp có bác sĩ đặc trách theo dõi sức khỏe đều đặn. Quy trình làm việc của Ban cũng khá ngắn gọn. Hàng tuần Ban đều có giao ban về tình hình sức khỏe của các vị lãnh đạo. Khi có vấn đề gì cần đặc biệt chú ý về sức khỏe các vị lãnh đạo này thì những biện pháp điều trị sẽ được đưa ra ngay lập tức.

Trong trường hợp có những vấn đề đột xuất thì bất cứ lúc nào, tình hình đó phải được xử lý ngay, phải được hội chẩn nếu cần thiết, với sự tham gia của các chuyên gia (trong nước là chủ yếu).
Khám cho dân thường và lãnh đạo “có khác nhau”

Theo GS Khải, giữa việc khám chữa bệnh cho người dân bình thường và khám chữa bệnh cho cán bộ lãnh đạo cao cấp có khác nhau.

Đối với cán bộ cao cấp, việc khám và ghi chỉ định chữa bệnh phải có quy trình hết sức chặt chẽ do một số thày thuốc chuyên khoa chịu trách nhiệm, với kết quả được ghi chép kỹ lưỡng, xét nghiệm phải đầy đủ (trong phạm vi khả năng các labô của chúng ta cho phép, và theo tôi tới nay các labô này đã khá đầy đủ).

Dân thường, đối với bệnh nhân của GS Khải, GS cho rằng họ cũng không thiệt thòi gì lắm về mặt này (về chuyên môn) nhưng họ phải tự đi mua thuốc, và nếu có được vào bệnh viện để theo dõi, trong những trường hợp không thể để chữa ngoại trú, thì họ phải chấp nhận nằm đôi, điều kiện sinh hoạt không thể nào sánh với các bệnh viện đặc biệt, các khu vực đặc biệt được.

“Có người dân vào bệnh viện tư nhân, bệnh viện nước ngoài như Việt - Pháp, nhưng không phải ai cũng có điều kiện như vậy vì chi phí quá lớn so với điều kiện kinh tế của họ. Tôi thấy chúng ta quá thiếu bệnh viện để người bệnh được nằm điều trị theo một cách mà họ đáng được như vậy”, GS Khải băn khoăn.

Trên thực tế có nhiều người dân sau khi khám chữa bệnh đã không qua khỏi và có thể sau đó bệnh viện, bác sỹ sẽ gặp chuyện kiện tụng vì nhiều lý do khác nhau (về chuyên môn, thái độ chăm sóc, …) song GS Khải cho biết với công việc của mình thì không có chuyện đó vì nếu vị lãnh đạo đó không qua khỏi thì có nhiều nguyên nhân như tuổi cao sức yếu, tất cả mọi người (kể cả người thân) đều biết toàn bộ các bác sỹ giỏi nhất đã được huy động và làm hết sức mình vì những người bệnh “đặc biệt” này.
Chỉ có 1 chân lý

Trong ngành y tế phổ biến chuyện cùng một bệnh trên cùng một con người nhưng cách điều trị của mỗi bác sỹ khác nhau là không giống nhau. Và cũng đã xuất hiện rất nhiều trường hợp các bác sỹ tranh luận rất gay gắt để bảo vệ phương án điều trị của mình.

Theo GS Khải, việc khác nhau về quan điểm điều trị là đương nhiên (vì mỗi người có kinh nghiệm, sự hiểu biết khác nhau về bệnh, đó là chưa kể đến những yếu tố xã hội học tác động vào). Nhưng với hội đồng chăm sóc sức khỏe cho các lãnh đạo cao cấp, GS Khải “tiết lộ” các thành viên trong hội đồng khá ăn ý với nhau.

“Chúng tôi coi đó là trách nhiệm của mình. Quy định về theo dõi bệnh lý, về hội chẩn phải nói là chặt chẽ và đảm bảo bí mật nghề nghiệp. Đó là một nguyên tắc không bao giờ được vi phạm”, GS Khải nói.

Sở dĩ các thành viên trong hội đồng khá ăn ý với nhau trong điều trị, theo GS Khải, là vì người phụ trách chung về chuyên môn trong hội chẩn đã làm tốt vai trò của mình.

“Đối với việc khám và chữa bệnh nói chung, chỉ có một sự thật, và chỉ có một chân lý, đó là làm cách nào tốt nhất để người bệnh khỏi bệnh. Những người ba hoa, khoác lác, sớm muộn không có chỗ đứng. Tôi nói như vậy có nghĩa là có thể có nơi, có lúc, hiện tượng này có xẩy ra, nhưng không kéo dài, và được chấn chỉnh một cách nghiêm túc, có tình có lý.

Ngày nay, khi đã có giao lưu rộng rãi quốc tế và trong nước, các quy định về chuyên môn trong chẩn đoán và điều trị, phòng bệnh, đều rõ ràng, cho nên, vai trò của người phụ trách chung về chuyên môn trong hội chẩn là quan trọng, nói có sách, mách có chứng, không có chỗ cho những người nói theo cảm tính, nói lấy được, làm khổ bệnh nhân và làm thất vọng những người cả tin”, GS Khải nói.

Nguồn: 24h

Chủ Nhật, 20 tháng 3, 2011

Hot news: Bộ Chính trị- Sai phạm ở Vinashin chưa đến mức kỷ luật ai!!!!!!

Phó Thủ tướng thường trực Nguyễn Sinh Hùng cho hay, Bộ Chính trị đã quyết định không xử lý kỷ luật với các tập thể, cá nhân liên quan đến tình hình sai phạm ở Vinashin.

Photo from website: www.Vietnamnet.vn:

Thứ Ba, 15 tháng 3, 2011

Bút Tre mới nhại thơ Tố Hữu

Bài ca Xuân 2011


Tôi viết bài thơ xuân
Hai ngàn không trăm mười một…
Cành táo đầu hè không ra quả được
Nước khu công nghiệp hôi tanh!
Rét dài rồi lại nắng hanh,
Tưới nhiều, cây mới khô cành đó chăng?
Giã từ năm cũ bâng khuâng
Bước sang năm mới giá tăng lạ thường!

Kìa xuân mới, có gì kinh hãi?
Hỡi em yêu, mà mặt em méo vậy?
Như là loạn lạc ngày xưa?
Anh nắm tay em, luống cuống, vụng về
Mà nói thật: “Tiền lương anh đó,
Thôi hãy cố, chia ba phần nho nhỏ:
Anh dành cho trả nợ phần nhiều,
Phần nuôi con và phần để em tiêu!”
Em tủi hổ: “Biết làm sao cho đủ!”
Hai đứa ôm nhau, hai người khốn khổ
Em thổn thức hoài cho đến sáng mai nay
Anh lau đôi mắt huyền, ướt sũng chiếc khăn tay!...

Chà “mười một”! Giá cao muôn trượng!
Ta đứng đây mắt nhìn bốn hướng
Trông lại nghìn xưa, trông tới mai sau,
Trông bắc, trông nam, trông cả địa cầu!
Trải qua mấy cuộc bể dâu,
Những điều trông thấy càng đau nhân tình,
Tố Như ơi, có biết chăng
Còn đâu nước mắt, khóc than bao Kiều!
Nghe hồn Nguyễn Trãi phiêu diêu
Tiếng gươm khua, tiếng thơ kêu xé lòng…
Ôi tiếng của cha ông thuở trước
Như thét gào… vận nước hôm nay:
Mấy vùng trời biển trắng tay,
Thác kia Bản Giốc, đảo này Hoàng Sa!...
Anh hùng dân tộc chúng ta
Vì đâu nên nỗi, hóa ra thế này!

Có gì nhục trên đời hơn thế
Người với người sống để hại nhau
Quan thì cướp bóc làm giàu
Dân còng lưng xuống, cúi đầu mà đi!

Đời thế đó từ khi mở cửa
Mọi thứ thành hàng hóa bán, mua:
Chức quan, bằng cấp, cave,
Ruộng vườn, sông núi, ao hồ, biển khơi…

Khắp đất nước… tiền đang vẫy gọi
Bao rừng thiêng chặt phá tan hoang,
Bạt núi, ngăn sông, tìm quặng, đãi vàng,
Bô-xít Tây Nguyên, Lào Cai, Hồng Quảng…
Sông Ba, sông Lô, sông Đà, sông Chảy…
Khắp nơi thủy điện…
Lũ quét kinh hoàng!
Hỡi những chàng trai, những cô gái ơi
Hai bàn tay ta đang xây hay phá,
Có nghĩ gì cho thế hệ tương lai?
Chộp giựt, ăn liền… đâu nghĩ đến ngày mai!

Tôi viết cho ai bài thơ xuân “mười một”?
Đêm đã khuya rồi, rét về tê buốt,
Hà Nội rì rầm… còi thổi ngoài ga…
Mấy hôm nay như đứa nhớ nhà,
Ta vẩn vơ hoài, rạo rực vào ra,
Nghe tiếng thét, cả châu Phi đứng dậy
Lũ độc tài… phải cuốn gói ra đi…
Cách mạng Hoa Lài có đến được xứ ta?
Mang hạnh phúc đơn sơ, ước mơ nho nhỏ
Những giá trị thiêng liêng của loài người ta đó:
Hòa Bình
Hạnh phúc
Ấm no
Cho
Con người
Dân chủ
Tự do!

03 -2011

B. T. M.

Nguồn: Trannhuong.com